Tháp vĩnh cửu - Chương I: Một nhân sự miễn cưỡng

LỜI GIỚI  THIỆU

 

Từ phố xá đô thị cao ngất tới làng mạc xa xôi, Đài Phát Thanh Xuyên Thế  Giới đang được Đức Chúa Trời dùng để đưa người ta từ nghi ngờ tới chỗ quyết định làm môn đồ Ngài. Đây là chức vụ bất tận, làm thay đổi cuộc sống, và hiện đang diễn ra ngay chính giây phút này, vòng quanh địa cầu.

 

Chương trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới là một chức vụ phát thanh Cơ Đốc mang tính quốc tế đã từng rao giảng Tin Mừng về tình yêu không phai tàn cùng sự tha thứ đời đời của Đức Chúa Trời suốt gần năm thập niên qua. Tổ chức chúng tôi được thành lập năm 1952 do Tiến sĩ Paul E. Freed, người đã tham dự một hội nghị đặc biệt về truyền giáo cách đó bốn năm tại Thụy Sĩ và nghĩ rằng mình sẽ làm giáo sĩ tại Tây Ban Nha. Mục tiêu của ông thì đúng, nhưng Đức Chúa Trời đã thay đổi phương pháp của ông. Thay vì nói trực tiếp và đối diện với từng người, Tiến sĩ Freed được Đức Chúa Trời hướng dẫn xem xét dùng ra-đi-ô làm phương tiện để nói cho mọi người về Chúa Giê-xu.

 

Các chương trình đầu tiên của chúng tôi được phát sóng đến Tây Ban Nha vào Tháng Hai 1954, bằng tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh từ một máy truyền tin nhỏ ở Tangier, nước Ma-rốc. Từ khởi điểm khiêm tốn đó, Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới đã mở rộng lịch phát thanh các chương trình Cơ-đốc hàng tuần lên hơn 1.600 giờ từ 13 điểm phát sóng siêu công suất chính và bằng vệ tinh. Các buổi phát thanh cũng được truyền qua hơn 1.600 đài địa phương. Thính giả trên hơn 160 quốc gia có thể nghe lời Đức Chúa Trời giảng dạy qua hơn 165 ngôn ngữ khác nhau. Ảnh hưởng thật khó tin nổi. Ngày nay, chúng tôi nhận được trên 1 triệu rưỡi cánh thư, “fax,” điện thư, cũng như tin nhắn qua điện thoại mỗi năm; điều này cho thấy cách Đức Chúa Trời đã đùng các buổi phát thanh để thay đổi vĩnh viễn những cuộc đời!

 

Mục tiêu chính của chúng tôi là tuân phục điều thường được gọi là “Đại Mạng Linh.”

Chúng tôi đã chọn ra-đi-ô làm công cụ để thực hiện sứ mạng này.

 

 

 

LỜI MỞ ĐẦU

 

Đây là câu chuyện về bước khởi đầu của Đài Phát Thanh Xuyên Thế Giới (tên tiếng Anh: Trans World Radio, viết tắt: TWR). Câu chuyện không bắt đầu tại một trong những địa điểm phát thanh của Đài, mà là trong lòng một con người, Paul E. Freed. Chúa biết cách Ngài sẽ dùng Paul Freed cho chương trình truyền giáo lớn lao nhưng đầy mạo hiểm này, nên Ngài đã nhen lên trong ông một tinh thần truyền giáo mạnh mẽ ngay từ khi ông còn là một chàng trai mới lớn tại vùng Trung Đông. Là giáo sĩ suốt 27 năm tại vùng mà ngày nay là nước Syria, cha mẹ Paul đã giúp cho đời sống ông có một khải tượng truyền giáo sâu sắc, nếu không thì ông đã chẳng bao giờ biết được nhu cầu này.

 

Chương trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới trước đây bắt đầu trong trái tim một người, thì cũng vậy, ngày nay nó đã trở thành nhịp đập trong trái tim của nhiều con người trên khắp thế giới, cả nam lẫn nữ. Một số những nhân viên tận tụy này sẽ được nhắc đến trong các chương của sách. Tuy nhiên, những người khác tham gia vào chức vụ của TWR sau khi sách này được viết ra cũng giữ vai trò thiết yếu trong việc phát triển công tác đã bắt đầu từ năm 1952. Họ là những con người làm việc âm thầm, nhưng cuộc đời họ đã gắn chặt với chức vụ của TWR.

 

Sách này đưa độc giả đi qua những chặng đầu trong lịch sử của Đài Phát Thanh Xuyên Thế Giới, khởi đầu với đài “The Voice of Tangier” (Tiếng nói Tangier), sau đó là đài phát thanh Monte Carlo, và kết thúc với việc thành lập trạm phát sóng của TWR tại đảo Bonaire. Từ đó, chương trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới đã xây dựng lên những phương tiện phát thanh hoặc tận dụng các trạm sẵn có trên khắp thế giới. Với gần 1.000 giờ của chương trình hàng tuần được phát sóng từ nhiều điểm phát thanh, Đài Phát Thanh Xuyên Thế Giới đã trở thành tên gọi quen thuộc đối với nhiều thính giả hải ngoại.

 

TWR cũng hiện diện trên khắp năm châu và một tiểu lục địa. Các đài địa phương của TWR được đặt tại trên 30 quốc gia. Đây là các tổ chức tự trị chịu trách nhiệm phiên dịch, viết lại, phát sóng hầu hết những chương trình của TWR bằng ngôn ngữ của người dân trong xứ họ, cũng  như đảm trách việc liên lạc thư từ và thăm viếng chăm sóc. Ngày nay chúng tôi nhận được hàng trăm ngàn lá thư mỗi năm từ các thính giả theo dõi các buổi phát thanh của TWR; riêng tại Ấn Độ, mỗi tháng có từ 25.000 tới 40.000 lá thư.

 

Sắp tới, Đài Phát Thanh Xuyên Thế Giới sẽ phát triển ra sao? Chúa sẽ mở những cánh cửa cơ hội mới nào trong tương lai? Chúng ta không biết được, nhưng có một điều chắc chắn – đó là Ngài vẫn là Đức Chúa Trời Toàn năng mà nhiều năm trước đây đã gieo hạt giống chức vụ này trong lòng một con người. Tháp Vĩnh Cửu ghi lại những sự việc do kết quả của hạt giống đó nẩy nở nên và cuối cùng đã trổ hoa thành chức vụ phát thanh toàn cầu vì vinh hiển của Đức Chúa Trời. Nguyện danh Ngài được ngợi khen.

A. L. Robertson, D. D.

Phó Chủ Tịch Ban Điều hành Phát Thanh Xuyên Thế Giới

  

CHƯƠNG I

MỘT NHÂN SỰ MIỄN CƯỠNG

 

Không bao giờ tôi có thể quên được cái ngày oi bức năm 1948 đó, khi tôi bước xuống tàu lửa tại Barcelona. Tôi KHÔNG thích Tây Ban Nha. Tôi thà đi đến hầu như bất cứ nơi nào khác trên thế giới hơn là Tây Ban Nha. Tôi không biết nước Tây Ban Nha. Tôi cũng không có mối quan tâm đặc biệt nào đối với người dân Tây Ban Nha. Tây Ban Nha là đất nước ít thu hút nhất đối với tôi - sau một thời thơ ấu thật sôi nổi tại các vùng đất Ả Rập. Và tôi không biết mình sẽ làm gì tại Barcelona.

 

Bên ngoài sân ga Moorish, tôi được đưa tới một loại phương tiện kỳ dị gọi là ta-xi. Nó chẳng giống bất cứ loại xe cộ nào tôi đã đi, vì nó chạy bằng lò đốt than ở phía sau. Mùi khói bốc lên hôi đến nổi tôi không biết mình phải thò đầu ra ngoài hay là ráng chịu đựng bên trong. Khởi đầu thế này thật chẳng có gì tốt đẹp.

 

Cảnh lá cờ vàng đỏ của Tây Ban Nha phấp phới trên sân ga, khiến tôi thắc mắc không hiểu vì sao Đức Chúa Trời lại dẫn tôi theo hướng này. Nhớ lại hồi ở Winona Lake, bang Indiana, dường như cũng khá hợp lý để tôi lưu ý lời của Torrey Johnson khi ông bảo tôi: “Paul Free à, tôi tin là ĐứcChúa Trời muốn anh đi Châu Âu.”

 

Chẳng có gì đáng kỳ vọng ngoại trừ kỳ Hội nghị của tổ chức International Youth For Christ (tạm dịch “Thanh niên Thế Giới vì Đấng Christ”) tại Bearenberg, Thụy Sĩ. Trước đây tôi đã từng xuất ngoại khi đi đi về về giữa Mỹ Quốc và nhiệm sở truyền giáo của cha mẹ tôi tại Palestine và Syria. Bây giờ tôi đã ba mươi tuổi, đã kết hôn, và xem như ổn định rồi; nhưng dường như đây là thời điểm Đức Chúa Trời muốn tôi phải vượt Đại Tây Dương một lần nữa, dù rằng không dễ gì để vợ tôi ở lại Mỹ Quốc.

 

Hội nghị quốc tế tại Thụy Sĩ quy tụ đại biểu từ khắp Châu Âu cũng như Châu Mỹ. Nhưng hai chàng thanh niên sốt sắng là đại biểu của Tây Ban Nha đã trở thành những mắc xích quan trọng trong sợi dây xích vận mạng đời tôi. Họ nài nỉ ai đó trở lại Tây Ban Nha để giúp họ mang gánh nặng khổng lồ là đem Phúc Âm đến cho 30 triệu đồng bào của họ.

 

Cuối cùng tôi nói tôi sẽ đi – tiếng “vâng” rất yếu ớt, miễn cưỡng – nhưng tôi đã lên đường. Tôi không nhận biết rằng ĐứcChúa Trời đang lót đường cho toàn bộ công tác tương lai của tôi trong mấy ngày ít ỏi của tôi tại Tây Ban Nha.

 

Tuy nhiên khi tôi bắt đầu mở mắt ra, thì tôi hầu như bị thu hút ngay bởi vẻ đẹp hoang sơ của bán đảo nhiều đồi núi này. Tôi lại càng bị thu hút bởi người dân Tây Ban Nha – tại những thành phố đông đúc, khi tôi tung tăng trên những con đường rải đá cuội dẫn tới các thôn xóm có bờ rào đá, khi tôi ghé mắt vào các căn nhà tối tăm trong hang núi. Đi tới đâu, tôi cũng bắt đầu cảm thấy bị người dân Tây Ban Nha khiến phải tò mò một cách kỳ lạ.

 

Cảnh sát Tây Ban Nha, vốn nổi tiếng là kỷ luật sắt, đi tuần tra những con đường quê theo từng cặp. Nông dân nam, nữ của vùng Andalusia làm việc cạnh nhau trong những cánh rừng ô-liu. Trong các vườn cam được chăm sóc cẩn thận, trong các ruộng lúa nước ngập tới đầu gối, trong bóng râm của cánh cửa trước nhà – may vá, thêu thùa, làm ren hoặc lưới đánh cá – đâu đâu người ta cũng làm việc nhiều giờ và chăm chỉ để kiếm sống.

 

Trong những hang động đục từ đá mềm dọc theo con đường trên cao bên trên cung điện Alhambra là nơi ở của đám dân lãng tử, đã từng sống lâu đời tại Tây Ban Nha đến nỗi chẳng ai còn nhớ chính xác họ bắt đầu xuất hiện từ khi nào. Nhưng diện mạo da sẫm xinh đẹp, váy viền ren, cùng những vũ điệu vui tươi của họ đã trở thành một phần trong truyền thống Tây Ban Nha.

 

Đi tới đâu tại vùng nông thôn Tây Ban Nha chúng tôi cũng được dân chúng lịch sự mời ăn bất kỳ món gì họ đang ăn. Tôi được dạy cho câu trả lời thích hợp đó là : “Cám ơn. Chúc mọi việc tốt đẹp.”

 

Trong một vùng ngoại ô chúng tôi gặp những thanh niên vẻ mặt nghiêm nghị được đào tạo cho nghề đấu bò nguy hiểm. Suốt cuộc đấu, các cô gái đội khăn vuông làm đẹp cho đấu trường. Các bàn nhỏ tại những quán giải khát hè phố mời gọi chúng tôi dừng bước, trong khi những kẻ bán dạo vây quanh – nào tôm, nào khoai chiên, cua luộc, vé số, và những thứ khác. Giới thượng lưu mặc áo lông thú và đeo ngọc quí thì ngồi ăn trong những quán ăn sang trọng sáng rực ánh đèn chùm bằng thủy tinh.

 

Là kẻ mới đến giữa vòng người Tây Ban Nha, tôi thấy mình thích vẻ lịch sự, tính tò mò thân thiện, phong cách, cùng sự tôn trọng của họ đối với những giá trị con người. Có lẽ do chính tác động của tất cả những phẩm tính này trên tôi mà tôi đã có một đáp ứng nhiệt tình đối với người dân Tây Ban Nha. Dọc theo đường phố đông nghẹt những cụ bà mặc đồ đen bán gà, quả vả, hạt dẻ và tiêu, tôi nghe tiếng lách cách của xe do la kéo. Tôi ngửi thấy mùi hoa cam và mùi tôm chiên nóng. Tôi cảm thấy mối quan tâm không giải thích được đang gia tăng trong lòng tôi.

 

Đằng sau những cánh cổng sắt hoa ren cầu kỳ, tôi có thể nhìn thấy những ông trùm chăn nuôi, trùm cây ô-liu, những ông vua cam, vua bần (cork kings) đang nhấp nháp rượu, ngả người trên những ghế bành nệm êm, vô cùng cách biệt với đám đông ngoài phố. Bên ngoài, trên những đường đá cuội, “tầng lớp còn lại” đang chen lấn tôi – nào nông gia, chủ cửa tiệm, dân quê, công nhân bến tàu, hành khất, dân lưu lãng, trẻ con, kẻ bán dạo – những con người mảnh dẻ và nhanh nhẹn, hiểu biết và hoài nghi, nhưng lại thu hút tôi với đôi mắt đen và nụ cười bất chợt của họ.

 

Tây Ban Nha có cả ngàn bộ mặt. Một số thì nghiêm nghị và hằn nếp nhăn vì lo âu, số khác thì sáng sủa và vui tươi. Đó là một xứ gồm những người dân quê chăm chỉ làm việc, tự trọng, những dân lưu lãng ăn mặc sặc sỡ; những binh lính dẻo dai, những nghệ sĩ, tu sĩ, thương gia, quí tộc. Đó là một xứ đa dạng về địa lý – những đỉnh núi tuyết phủ, những ngọn đồi trơ trọi, những đồng ruộng xanh rờn phì nhiêu, những thảo nguyên cằn cỗi, và những đồng bằng duyên hải cận nhiệt đới.

 

Lịch sử cũng để lại nhiều dấu ấn trên khắp đất nước này. Những cấu trúc vòm duyên dáng của một hệ thống dẫn nước thời La Mã vẫn tồn tại suốt hai mươi thế kỷ. Được đúc kết lại mà không cần hồ vữa hoặc xi măng, những tảng đá hoa cương hoàn toàn ăn khớp nhau, và cho mãi tới gần đây, nước vẫn còn chảy qua đường dẫn này. Những tàn tích cùng các cấu trúc thời cổ được lưu giữ cẩn thận trên khắp bán đảo ghi lại vị thế mà người La Mã, người Gô-tích phương tây (Visigoths), và người Ma-rốc đã giành được.

 

Alhambra, một cung điện pháo đài ngổn ngang vốn được người Ma-rốc hoàn tất trong thể kỷ mười bốn vẫn còn là đồn lũy của người Hồi giáo Phi châu cho tới khi Ferdinand và Isabella tái chinh phục Granada vào cùng năm Columbus vượt biển về hướng tây với lời chúc của họ.

 

Tại Madrid, nhịp sống hằng ngày được đẩy nhanh nhờ nhiều thiết bị hiện đại. Ngoài những đại lộ rộng lớn chạy dọc hai bên là những nhà chọc trời, Madrid còn có những dấu hiệu khác cho thấy nó hiện đại - đèn nê-ông, trạm xe điện ngầm, nạn kẹt xe, những quán rượu. Trên bờ Địa Trung Hải, Barcelona quá nhộn nhịp với hoạt động kinh doanh và thương mại hiện đại đến nỗi khó hiểu được là Julius Caesar đã từng ở đó suốt ba năm!

 

Khi đi về các làng mạc, tôi bị quấy rầy bởi đám trẻ con giật mạnh áo khoác tôi ngoài đường. “Tengo hambre! Tôi đói!” Một số rách rưới, một số đi chân không, một số chẳng mặc áo quần gì cả – tôi chưa hề chứng kiến cảnh nào giống như vậy. Tôi nhìn lướt qua từng gương mặt, đọc được từng khao khát rõ rệt trong những ánh mắt lấp lánh của chúng. Tôi thấy khó chịu trước những thân thể gầy guộc, nhưng tôi mải mê nhìn chúng vì nhận biết những con người bé bỏng đó cần sự an ủi, che chở, cùng tình yêu của Chúa. Xuyên qua bề ngoài nghèo khổ tả tơi của chúng, thậm chí tôi – một khách lạ miễn cưỡng giữa vòng chúng – cũng có thể thấy được sức mạnh của một di sản kiêu hùng. Người Tây Ban Nha theo cá nhân chủ nghĩa, tôi phải học biết điều đó. Triết gia Miguel de Unamuno viết về đồng bào mình: “Thật khó mà cai trị một nước có hai mươi hai triệu ông vua.”

 

Ngay sau khi từ Thụy Sĩ tới, tôi tham dự buổi thờ phượng đầu tiên tại nhà thờ. Tôi được mời vào một phòng cao nhỏ bé và được yêu cầu chia sẻ cho các tín hữu địa phương qua thông dịch viên. Khi bắt đầu nói, tôi dò xét gương mặt họ – nhiều nếp nhăn vì nhu cầu lẫn khó khăn, nhưng cũng thật ấm áp hy vọng, điều dường như không thấy có ngoài đường phố.

 

Tôi cảm thấy cổ họng mình bị nghẹn lại trong khi nói chuyện với những con người can đảm đó: “Tôi không thể nói gì. Xin lỗi quí vị, tôi không muốn nói gì. Xin quí vị nói cho tôi nghe. Quí vị biết Đức Chúa Trời không giống như cách tôi biết Ngài. Tôi xin phép ngồi dưới chân quí vị được không? Tôi muốn nghe quí vị nói.”

 

Mọi người im lặng nhìn nhau. Cuối cùng, một ông tóc bạc đứng lên nói: “Nếu có một điều nào đó đúng trong đời sống chúng tôi – thì điều ấy chính là Chúa Giê-xu Christ có ý nghĩa đối với chúng tôi hơn bất cứ điều gì khác.”

 

Chắc chắn là ông không có ý nào khác hơn những gì ông vừa nói. Tôi thấy mình đang kêu la với Đức Chúa Trời xin Ngài cũng trở nên thật nhiều ý nghĩa như vậy đối với tôi.

 

Họ phải cùng dùng chung với nhau số Thánh ca và Kinh Thánh ít ỏi đang có, nhưng tôi chưa hề gặp ở bất cứ nơi nào những tín đồ Cơ Đốc giống như tôi đã gặp ở tại Tây Ban Nha. Và tôi tự hỏi biết đâu có thể Đức Chúa Trời sẽ phải khiến tôi trải qua những thảm cảnh và khó khăn trước khi tôi có thể yêu Ngài giống như họ.

 

Thành thật  mà nói thì dường như điều mạnh mẽ thúc giục tôi giúp Cơ Đốc nhân Tây Ban Nha chính là sự vững vàng nơi người tín hữu mà tôi gặp bất kỳ nơi nào tôi viếng thăm - từ những làng ở vùng núi Pyrenees miền bắc, cho tới vùng Andalusia ngập nắng trên bờ Địa Trung Hải. Có vẻ như Đức Chúa Trời đang bảo tôi giúp họ nhân lên các phước hạnh thuộc linh của họ để đem sứ điệp Phúc Âm tích cực đến với những người khác trong vòng dân tộc họ. Dần dần tôi nhận ra rằng chính những con người mà trước đây cá nhân tôi chưa hề quan tâm này cũng đang nặng trĩu với những nhu cầu to lớn y như những người Ả Rập mà tôi đã cùng lớn lên và khao khát được phục vụ.

 

Tôi đi từ thành thị tới các thôn xóm – chủ yếu là để gặp các nhóm tín hữu Cơ-đốc và tổ chức các buổi truyền giảng. Bất kỳ  nơi nào tôi đến cũng được sự quan tâm sâu sắc, và toàn bộ thời gian tôi ở đó, chưa hề có lần nào tôi nói chuyện mà còn một chỗ bỏ trống. Thật ra, ghế thường được dẹp đi để có thêm chỗ cho những tấm lòng đói khát. Cho dù nơi nào tôi đến, nhu cầu cũng thật là cấp bách.

 

Đức tin nơi Chúa Giê-xu Christ không hề là sự cam kết hững hờ. Ngài là chìa khóa cho sự can đảm sôi nổi của họ. Có người nói với tôi rằng người Tây Ban Nha được tạo thành gồm hai phần – lòng sùng đạo và tính vui tươi. Nơi người tín đồ Tây Ban Nha, đây là kết hợp đầy thuyết phục đã giúp họ vượt qua những hoàn cảnh không thể tin được. Tôi chưa hề thấy có gì giống như thế. Họ hết lòng yêu Chúa, và sau khi tôi đã giảng suốt hai ba tiếng đồng hồ, họ hỏi: “Hết rồi sao? Ông không thể nói thêm cho chúng tôi về Chúa Giê-xu Christ sao?”

 

Một bà cụ tôi gặp trong làng nọ là một tín đồ thật tốt. Tôi nói với bà về cái đẹp buổi sớm mai cùng vẻ đáng yêu của đồng quê Tây Ban Nha. Nhận xét của bà là lời cáo trách đối với tôi: “Pablo ơi, ông lại lạc đề nữa rồi. Tại sao ông lại lạc đề chứ? Sao ông không nói với tôi về Chúa Giê-xu? Tôi thích nói về Chúa Giê-xu hơn bất cứ điều gì khác.”

 

Đức tin bền bỉ như của bà cụ cũng dễ lan truyền –mối thông công giữa các tín đồ Tây Ban Nha không phải là một truyền thống tĩnh lặng. Chúa Giê-xu Christ đã đầy dẫy đời sống họ đến nổi tràn ra ngoài, và tình yêu ĐứcChúa Trời tuôn đổ để sưởi ấm và thuyết phục người khác. Khi đến với nhau, họ thường đem thêm người mới – người hàng xóm, người bạn, người bà con, một người nào đó đang đói khát sự vĩnh cữu. Tôi không thể nhớ ra có trường hợp nào nói chuyện ở Tây Ban Nha mà lại không có người mới đến với Chúa.

 

Câu hỏi “Làm sao để có thêm người được nghe về sự nhơn từ của Đức Chúa Trời?” liên tục quấy rối suy nghĩ của tôi từ lúc thức dậy theo tiếng gà gáy trên vùng cao nguyên Andorran, trong lúc tôi đi ngang khu rừng mờ tối của vùng Alhambra lịch sử và nghe điệu hót hiếm hoi của chim họa mi. Trong những hang động trần thấp dùng làm chỗ ở được đục từ những thảo nguyên khô cằn, trong những thôn xóm của dân chăn cừu với tường rào bằng đá, vượt qua hàng hàng lớp lớp những vườn nho mênh mông, những cánh đồng rộng lớn xanh rì cây ô-liu, tôi bước theo nhịp điệu thầm lặng của một đất nước khao khát Đức Chúa Trời.

 

Rất lâu sau ngày trở lại với cuộc sống tương đối tiện nghi ở Greenboro, N.C., tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi nhịp tim của một xứ sở mà hàng triệu người chưa hề được nghe tin mừng thực sự về Chúa Giê-xu Christ. Người chủ cối xay mặc áo đen, những kẻ sống lang thang, những người dắt la, các dũng sĩ đấu bò, những thiếu nữ đội khăn vuông, những đứa trẻ chập chững ăn mặc rách rưới, những cậu bé đánh giày, những nông dân choàng khăn – tất cả cứ lảng vảng ra vào, lui tới trước con mắt nội tâm của tôi. Trong khi chia sẻ với các thiếu niên Cơ Đốc, khuyên nài những người trung niên ngoan cố, cầu nguyện cho các đứa trẻ ngang bướng cùng những bậc cha mẹ của chúng tại Hoa Kỳ – một đất nước đâu đâu cũng có nhà thờ, thì tôi phải thú nhận trong chỗ riêng tư trước mặt Đức Chúa Trời rằng tôi đã bị người dân Tây Ban Nha và niềm khao khát Chúa Hằng Sống trong lòng họ bắt lấy.

 

Hình ảnh thật linh động, nhưng rất phức tạp. Trong một xứ nhiều núi thứ hai của Âu châu, vùng đất Tây Ban Nha được kết nên bằng những cộng đồng khó tiếp xúc. Ba mươi triệu con người khiến tôi thật đau lòng. Trong trí tôi chỉ có một lời giải đáp cho vấn đề: Phát thanh. Không giống bất cứ thứ gì, phát thanh có thể bao trùm cả nước từ đỉnh núi xuống thung lũng, từ nội địa Madrid tới duyên hải Cadiz. Tôi chưa có một xu hỗ trợ nào, tôi không biết phải thực hiện những bước đi nào. Nhưng có một điều tôi biết chắc không chút nghi ngờ – Chúa đã kết nối trái tim của tôi với trái tim của đất nước Tây Ban Nha.

 


Họ và tên (*) Email (*)
Hiển thị email
Nội dung
 

Tháp Vĩnh Cửu: Chương XIII - Nước Đức đi đầu Các nhân viên giỏi giang của phòng soạn chương trình tại...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương XII - Sẳn sàng đến Monte Carlo Trong năm xây dựng và chuẩn bị tại Monte Carlo, vợ chồng...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương XI - Phép lạ tại MONACO tôi tự hỏi tại sao chúng ta lại thấy khó tin mỗi khi một...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương X - Những thách thức mới Tiếp theo là giọng ba tôi: “Paul à, Đức Chúa Trời đã làm...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương IX - Được thăng tiến
Tháp Vĩnh Cửu: Chương VIII - Đài tiếng nói Tangier Tôi thường thấy rằng Đức Chúa Trời sẽ đưa người tín đồ hầu...
   Đăng nhập | Đăng ký