Tháp Vĩnh Cửu: Chương III - Cánh cây bị uốn cong

Bàn tay dẫn dắt của Đức Chúa Trời đã dệt nên khuôn mẫu “tin cậy vâng lời” suốt cuộc đời tôi ngay từ  những ký ức đầu tiên. Ba mẹ tôi đã cho anh em tôi mái ấm gia đình tuyệt vời nhất có thể có được.

 

Trước khi tôi chào đời, một hôm ba mẹ tôi bị thu hút bởi tấm bảng quảng cáo những buổi nhóm đặc biệt, treo trước tòa thị sảnh cũ trên con đường có ngôi nhà thờ nơi họ đến nhóm. Trước đó mục sư đã cảnh báo Hội thánh: “Hãy tránh xa mấy người cuồng tín đó!”

 

Nhưng Mildred và Ralph Freed vốn hiếu kỳ, và việc họ trở lại tin nhận Đấng Christ tiếp theo sau đó tại bàn thờ tạm nơi tòa thị sảnh đã thay đổi hướng đi đời sống của tất cả chúng tôi.

 

Ba tôi là một viên chức làm cho Công ty Máy Tính (Adding Machine) Burroughs tại Detroit, bang Michigan. Chỉ tại văn phòng quốc nội không thôi hãng này đã thuê mướn 10.000 người, còn ba tôi vì giữ chức quản lý hoạt động hải ngoại nên thường xuyên tiếp xúc với những nhà quản trị hàng đầu.

 

Tuy nhiên, Đức Chúa Trời có một kế hoạch khác cho tất cả chúng tôi. Và con đường dẫn tới Chương trình Phát thanh Xuyên Thế giới khởi đầu vào một buổi sáng rất bình thường trong văn phòng của ba tôi. Đây là câu chuyện ông kể:

 

“Một người đàn ông làm chung với tôi tại Burroughs – có lẽ lớn hơn tôi hai mươi tuổi – mỗi sáng đem thư tới. Anh cho tôi biết anh là thuộc viên của một hội thánh; nhưng thực sự thì anh cay đắng chống lại những điều thuộc về Đức Chúa Trời. Anh có vẻ nghĩ nhiều về tôi – luôn gọi tôi là ‘Ralphie.’ Nhưng thường khi tôi làm chứng cho anh thì anh bảo: ‘Ralphie à, anh thông minh thế sao lại đi tin mấy thứ đó.’

 

“Tôi không tranh cãi với anh; tôi chỉ tái nhấn mạnh điều Đức Chúa Trời đã làm cho tôi. Thế rồi một sáng nọ trong văn phòng của tôi, sau khi chúng tôi làm xong việc, anh nán lại một phút trước khi ra về:

 

“ ’Tôi đang nghĩ tới một chuyện, Ralphie à. Anh có hứa là sẽ trả lời thẳng thắn cho tôi không? Anh nói với tôi về sự cứu rỗi – huyết của Đấng Christ. Anh vẫn tìm cách bảo tôi rằng không có cách nào khác để đến với Đức Chúa Trời trừ ra Chúa Giê-xu Christ. Tôi nghĩ là có nhiều cách đến với Đức Chúa Trời, Ralphie ạ. Thế còn mấy người ở Phi châu và Đông phương và Nam Mỹ, cùng mọi nơi khác chưa hề nghe về Chúa Giê-xu Christ thì sao?’

 

“Tôi trả lời ngay: ‘Bạn ơi, với cả lòng mình tôi tin rằng không có sự cứu rỗi ngoài Đấng Christ. Kinh Thánh nói: “Chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha . . .”’

 

“ ‘Ralphie à, anh có thật lòng muốn nói như vậy không? Nếu anh thực sự tin rằng không có Chúa Giê-xu Christ thì mọi người đều hư mất và sẽ vào hỏa ngục, theo cách anh nói, mà anh lại thỏa mãn ngồi ở đây trong văn phòng đẹp đẽ này, trên chiếc ghế quay êm ái này, yên tâm lãnh lương – nếu mọi điều anh nói là đúng, thì tôi xin thưa, anh là tên giả hình đáng sợ nhất mà tôi từng gặp trong cả đời tôi.’

 

“Thật là cú đấm kinh khủng vào lòng tự kiêu của tôi. Nhưng tôi biết anh ta thành thật, và anh tôn trọng cá nhân tôi. Tôi cám ơn anh, rồi anh ra về. Khi về nhà tối hôm ấy, tôi không ngủ được, vì tôi nghĩ đến mọi hàm ý trong thái độ phê phán của anh. Tôi thật hạnh phúc ở Burroughs, có người vợ tuyệt vời với một con trai. Và cuộc sống hiện tại của tôi có vẻ thành công khi trước mắt tôi một tương lai đang trải rộng, đầy hứa hẹn.

 

“Nhưng khi tôi trở lại văn phòng sáng hôm sau, nơi đó không còn có vẻ giống như trước nữa. Chiếc ghế quay dường như không còn êm ái như ngày hôm trước.

 

“Một năm rưỡi trôi qua trước khi chúng tôi dọn nhà, nhưng khi dọn, chúng tôi không còn nghi ngờ gì về việc Đức Chúa Trời kêu gọi chúng tôi phục vụ những người không biết về tình yêu của Chúa Giê-xu Christ trong cuộc đời họ.”

 

* * *  *

 

Khi Ba tôi nộp đơn từ chức, hãng Burroughs đề nghị cử ông làm giám đốc chào hàng toàn Âu châu. Họ nghĩ ông có máu du lịch, nên đứng núi này trông núi nọ. Họ tưởng ông muốn làm việc ở hải ngoại. Có một điều mà họ không thể tin được, đó là ông muốn rời Borroughs. Họ nói, ông có thể tổ chức bất cứ cách nào ông thích, làm bất kỳ điều gì ông cảm thấy cần làm. Họ tặng ông một thẻ trắng. Nhưng Ba tôi cám ơn họ và giải thích: “Không phải máu du lịch khiến tôi muốn đến những xứ sở mới mẻ xa lạ. Mà chính Đức Chúa Trời làm điều này.”

 

Một trong những lãnh đạo công ty lắc đầu nói: “Ralph Freed ơi, nếu bất kỳ lúc nào anh muốn trở lại Burroughs, chúng tôi sẽ rất vui tiếp đón anh. Chỉ cần gửi cho chúng tôi một điện tín, là chúng tôi sẽ sắp xếp chỗ cho anh ngay – bất cứ lúc nào; tôi có ý nói bất cứ lúc nào không chịu đựng được nữa, chúng tôi luôn hoan nghinh anh quay về lại Borroughs.”

 

Vào lúc ba mẹ tôi rời quê nhà ở Birmingham, Michigan, để dọn tới Nyack, New York để theo học ở Viện Đào tạo Giáo sĩ (Missionary Training Institute) thì em gái Ruth của tôi mới được ba tháng. Dùng tiền để dành, năm đầu theo học trôi qua êm xuôi, nhưng qua năm thứ hai thì chẳng còn tiền bạc để sinh sống. Tôi nhớ ba tôi phải cọ rửa sàn, vẽ bản đồ, đào mương – làm bất cứ việc gì để nuôi sống gia đình.

 

Tới một lúc toàn bộ sự việc hầu như không chịu được nữa, và ba tôi nhớ lại đề nghị tại Burroughs. Cố gắng tối đa của ông vẫn không đủ. Tiền hết, chẳng còn gì để ăn. Sáng Chúa nhựt, tủ trống trơn và không còn chút gì lót dạ, chúng tôi chờ đợi thư từ với hi vọng Đức Chúa Trời cảm động người bạn nào đó gửi món quà nhỏ cho mình. Chẳng có thư. Ba tôi chỉ còn đồng tiền năm xu.

 

Mẹ chuẩn bị xong, tất cả chúng tôi đi bộ xuống phố, Ruthie nằm trong xe đẩy. Khi tới cửa hàng, Ba tôi rút trong túi ra đồng năm xu cuối cùng đặt lên quầy hàng. Ông chọn thỏi kẹo lớn nhất mà đồng năm xu có thể mua được rồi đưa cho tôi. Tôi ngạc nhiên được ăn kẹo vào giữa ngày khi mà lẽ ra phải ăn thịt với khoai, nhưng tôi cũng ăn.

 

Sau đó, khi chúng tôi đi ngang qua văn phòng Western Union, Ba dừng lại, quay sang nói với Mẹ: “Mildred à, em với anh thì sao cũng vui cả. Nhưng con cái chúng ta đói mà chẳng có gì cho chúng ăn thì thật quá sức chịu đựng! Anh không thể tiếp tục được nữa. Anh không còn muốn cố gắng làm chuyện ngoài khả năng của mình nữa. Anh sẽ gửi điện tín cho Burroughs.”

 

Mẹ tôi trì hoãn để kéo dài thời gian: “Ralph à, mình suy nghĩ thêm chút nữa đi.”

 

“Không được,” Ba nhấn mạnh và bước vào cửa. “Chúng ta không thể tiếp tục như thế này được. Anh sẽ gửi điện tín ngay bây giờ.”

 

Tôi không bao giờ quên được vẻ yêu thương và tin tưởng, tuy dịu dàng nhưng cương quyết sáng rực, trên gương mặt mẹ, khi mẹ nhìn ba: “Ralph à, chúng ta hãy thử Đức Chúa Trời một lần nữa xem sao. Chỉ một lần nữa thôi.”

 

Khi chúng tôi trở về lại căn hộ, ba mẹ đưa chìa khóa cho tôi và tôi chạy trước mở cửa. Tôi khó tin được điều mình chứng kiến. Căn phòng chất đầy thực phẩm. Khắp phòng ngổn ngang những túi khoai, bánh, rau, thịt, bột, đường, ngũ cốc, gà, bánh mì – đủ mọi thức ăn mà bất cứ ai cũng có thể nghĩ đến khi bao tử trống rỗng.

 

Nhưng đó không phải ảo ảnh! Mẹ và ba, khi bước vào theo sau tôi, nhìn nhau kinh ngạc và quì xuống cảm tạ Đức Chúa Trời. Cho đến ngày nay chúng tôi vẫn không biết cậu bé giao hàng là ai. Nhưng chúng tôi biết chính ĐỨC CHÚA TRỜI đã gửi tới.

 

Hơn bất cứ điều gì khác, ba mẹ tôi muốn sống đẹp lòng Đức Chúa Trời. Ngài là trung tâm của mọi lựa chọn, mọi kế hoạch. Đó là lý do khiến gia đình chúng tôi thật tuyệt vời, cho dù ở đâu – Detroit, Nyack, Jerusalem, hay Dera’a. Chúng tôi sống trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhưng mối liên hệ giữa ba mẹ luôn bền chặt. Họ yêu thương chung thủy. Thái độ Cơ đốc chân thật của ba mẹ đối với nhau và đối với chúng tôi là con cái dạy cho chúng tôi rất nhiều về lối sống tích cực. Chẳng có việc gì quá lớn đến nỗi không thể bàn với chúng tôi – dĩ nhiên là ở trình độ của chúng tôi. Nhưng em tôi là Ruth và tôi cảm thấy mình quan trọng, luôn luôn là một phần thực sự trong cuộc đời ba mẹ chúng tôi. Họ luôn luôn khiến chúng tôi cảm thấy mình được lưu ý đến trong những quyết định, những dự tính của họ.

 

Tôi có thể chèn thêm vào ở đây rằng hố sâu giữa bọn trẻ với người lớn, giữa con cái với cha mẹ, là vấn đề nghiêm trọng trong xứ chúng ta. Quá thường xuyên, qua cách cư xử của mình, chúng ta ngụ ý: “Thôi thì chúng còn nhỏ; đừng nên quấy rầy chúng. Chuyện này quá rắc rối, quá khó đối với chúng – đừng kéo chúng nó vào làm gì.” Chúng ta thấy chủ nghĩa Cộng sản lôi cuốn đám trẻ ngay từ tuổi còn rất nhỏ. Khi nhìn lại, tôi tin rằng yếu tố này – tức yếu tố được bao gồm vào như một thành viên hợp pháp trong một tình huống cơ bản nào đó – đã đưa tôi vào những sứ mạng mà tôi theo đuổi suốt cuộc đời, thay vì khiến tôi chống lại. Thật ra, tôi cảm nhận được rất nhiều rằng mọi việc có liên quan đến cuộc đời cũng như chức vụ của tôi gắn chặt với những gì xảy ra trong thời niên thiếu của mình, với tư cách là con của một giáo sĩ, với cha mẹ tôi.

 

Tình yêu cùng lòng tận hiến cho gia đình đã khiến chúng tôi rất gần gũi với nhau – không chỉ giữa ba mẹ, mà còn giữa Ruth và tôi. Cô ấy luôn là cô em gái tuyệt vời. Ruth thật có ý nghĩa đối với tôi, nhất là lúc còn bé và ở tuổi thiếu niên, khi chúng tôi sống xa quê hương, giữa vòng người Ả rập. Về sau, ở trường đại học cũng như trường Kinh Thánh, khi chúng tôi có những việc cần phải điều chỉnh, cô ấy và tôi đã có được nhiều giờ vui vẻ thảo luận cũng như giúp nhau giải quyết những vấn đề vốn bình thường trong những năm thành hình nhân cách của đời sống.

 

Việc ba tôi được bổ nhiệm làm chủ tịch chung cho cả vùng Trung Đông của Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp (Christian and Missionary Alliance) đưa chúng tôi đến làm việc giữa vòng người dân các vùng Palestine, Transjordan và Syria. Chúng tôi là giáo sĩ duy nhất cho 300 ngôi làng khi sống tại tỉnh nhỏ Dera’a ở Hauran thuộc nam Syria. Theo chúng tôi hiểu thì ngôi nhà truyền giáo của chúng tôi chính là “ngã tư của thế giới.” Người Ả rập tự động ghé vào nhà chúng tôi bất cứ lúc nào trong ngày, và chúng tôi làm mọi thứ theo khả năng để giúp họ cảm thấy được chào đón.

 

Kinh nghiệm đầu tiên của tôi trong cố gắng đưa người khác đến với Đấng Christ xảy ra lúc tôi được tám tuổi, ngay trong sân sau nhà ở Dera’a, một tỉnh nhỏ gần biên giới vùng Arabia. Một cậu trai Ả rập, lớn hơn tôi hai hoặc ba tuổi, ghé vào nhà chúng tôi nói: “Bà ơi, con muốn làm việc.”

 

Cậu này khiến chúng tôi thấy lạ, vì làm việc không phải là điều mà người Ả rập thích lắm. Mẹ tôi nói chúng tôi không có việc gì cho cậu làm cả, nhưng cậu ta cứ nài nỉ: “Xin bà giúp cho, con chỉ cần chút ít công việc trong vài hôm thôi.”

 

Dường như cậu ta có tài thuyết phục nên cuối cùng mẹ đã đổi ý và nói cậu có thể ở lại. Tên của cậu là Thani, nghĩa là thứ hai, con trai thứ hai trong gia đình. Người Ả rập chỉ tính con trai khi nói về con cái trong gia đình; thí dụ, chúng tôi có ba con (tức con trai) và hai gái.

 

Thani và tôi là bạn khá thân. Có lúc cậu ta cũng làm việc, nhưng có lúc cậu ta suy nghĩ rất khác lạ. Một hôm mẹ tôi đi vào làng mua thịt. Bà dẫn tôi theo và để Thani ở nhà một mình. Khi về, gần tới nhà, chúng tôi nghe tiếng kêu la khủng khiếp. Thani ở trong nhà, khóc lóc thảm thiết.

 

Cậu ta kêu gào: “Ghê quá – cái đầu tôi, cái đầu tôi.”

 

Đầu cậu quấn kín mít và chúng tôi phải mất một hồi lâu mới biết đầu đuôi câu chuyện. Thiếu niên Ả rập có phong tục để tóc dài và rậm để bảo vệ đầu khỏi cái nắng gay gắt. Hóa ra là Thani đã quyết định có mái tóc giống tôi, nên đã lấy kéo của mẹ tự cắt tóc lấy. Cậu ta cắt, tỉa, xởn – chỗ này một mảng , chỗ kia một mảng. Trông cậu ta thật ngộ nghĩnh! Và cậu luôn miệng kêu gào: “Ôi, tôi xấu xí quá!”

 

Giữa tiếng khóc thút thít, cuối cùng chúng tôi cũng nghe được: “Bà ơi, con nghĩ là trong lúc bà đi vắng thì con cố gắng làm cho phòng bà xinh xắn. Con nghĩ mình có thể vẽ vài hình đẹp lên tường.”

 

Quả Thani đã lấy sơn màu xanh dương nhạt vẽ đủ thứ hình khắp nơi.

 

“Trông khiếp quá! Con đã phá hỏng nhà bà rồi. Và con cũng làm hỏng luôn cái đầu mình nữa. Con thấy mình xấu quá! Con là một đứa tồi tệ. Lòng con có điều gì đó bất ổn.”

 

Tôi biết mẹ là Cơ đốc nhân thật, nhưng dấu hiệu yêu thương hôm ấy thật nổi bật nơi mẹ khi bà an ủi Thani: “Đừng khóc về chuyện đó nữa, Thani. Chúng tôi sẽ giúp em. Chúng tôi sẽ giúp em sửa lại. Đừng lo.”

 

Cuối cùng khi bà đã dỗ cậu ta hết khóc, tôi cùng Thani đi ra cái sân nhỏ của chúng tôi – chỉ toàn đất đá với mấy con gà đang bươi xới.

 

Thani rên rỉ: “Lòng tôi nặng nề quá, tôi xấu quá!”

 

Tôi choàng tay ôm cậu ta, nói: “Anh không xấu hơn tôi đâu. Nhiều lúc tôi cũng xấu như anh vậy đó. Chỉ có một Đấng duy nhất có thể giúp chúng ta. Đó là Chúa Giê-xu. Ngài có thể bước vào lòng anh và ban cho anh lòng mới như Ngài đã ban cho tôi vậy.”

 

Và ngay tại đó, trong sân nuôi gà nhỏ bé của mình, tôi được đặc ân dẫn Thani đến với Chúa Giê-xu. Vài hôm sau Thani nói với Mẹ tôi: “Bà không biết là con sung sướng thế nào đâu từ lúc Chúa Giê-xu vào lòng con. Nhưng con đang nghĩ tới ba mẹ con trong làng. Họ chưa biết Chúa Giê-xu. Và các anh chị em con cũng chưa biết Ngài. Tất cả bạn hữu con ở đó, họ chưa hề được nghe về Ngài. Con mừng cho bản thân mình, nhưng còn đồng bào con thì sao? Con phải nói cho họ biết về Chúa Giê-xu Christ. Con phải trở về làng thôi.”

 

Đêm hôm đó Thani dọn hết đồ đạc gói trong một tấm khăn lớn. Sáng hôm sau – với gói đồ và bữa ăn trưa – cậu ta nhập với đoàn lữ hành lạc đà chậm chạp đi theo con đường ngang qua nhà chúng tôi, mang lúa mì và ngũ cốc vào làng, cách đó ba mươi dặm trong vùng Hauran.

 

Ba tôi đã từng hầu việc tại Jebeib, ngôi làng Thani đang sống, và khi vào đó lần kế tiếp, ông dẫn tôi theo. Nhiều tuần đã trôi qua kể từ ngày Thani cùng đoàn người đi vào làng cho đến khi chúng tôi đến Jebeib trong chiếc xe Ford Model A cũ kỷ. Chúng tôi đậu xe nơi bìa làng rồi đi bộ vào thị trấn qua những con đường hẹp, đất lún. Sau lời chào hỏi thường lệ, hai hoặc ba người lãnh đạo trong làng bắt đầu nói với chúng tôi về Thani: “Cậu thiếu niên này từ nhà ông trở về khác hẳn. Bây giờ cậu ta thật tốt, sống ngay thẳng, và lúc nào cũng nói về Chúa Giê-xu Christ.”

 

Thani là cánh cửa chính đưa Phúc âm vào với dân làng Jebeib, và lời chứng của cậu là yếu tố mạnh mẽ giúp hình thành nên một Hội thánh Cơ-đốc trong làng. Cậu đã kinh nghiệm được tình yêu của Đức Chúa Trời trong gia đình chúng tôi, rồi từ tập thể yêu thương đó, cậu ra đi chia xẻ điều mình đã nhận được với những người mình yêu thương tại quê nhà. Đức Chúa Trời đã chiếm ngự tấm lòng cùng đời sống của cậu, và mọi người đều có thể thấy rõ sự thay đổi. Việc tôi đặt nặng tầm quan trọng cho công tác truyền giáo ngày nay có liên quan trực tiếp đến Thani. Cậu ta là người đầu tiên khơi dậy mối quan tâm cá nhân của tôi trước nhu cầu của người khác. Cậu ta là người đầu tiên cho tôi thấy sự thay đổi bởi quyền năng của Đức Chúa Trời trong một con người.

 

Được đi với ba tôi vào làng là điều vui nhất đối với tôi trong những ngày chúng tôi sống cách biệt sâu trong vùng nội địa Syria. Tinh thần tiên phong dường như đẩy tôi xa rời những tiện nghi chính đáng của gia đình, thúc đẩy tôi nhận biết rằng công tác truyền giáo là đáp ứng nhu cầu của những con người tại bất cứ nơi nào họ đang sống.

 

Đám con trai trong làng lúc nào cũng tụ tập quanh xe, và nhiệm vụ của tôi là canh chừng xe trong khi Ba tôi bận nói chuyện với dân làng. Bọn trẻ không xấu, nhưng chúng đầy bản năng con trai. Vì thiếu hiểu biết và hiếu kỳ cho nên chúng có thể gây nhiều thiệt hại – như là lấy đá sắc bén viết lên lớp sơn sáng bóng của xe. Có một lúc chúng tôi cảm thấy bực bội về những bài toán cùng bài tập viết cào sướt khắp cả xe, nhưng Ba tôi học biết rằng nước sơn của xe có thể hi sinh được, chừng nào mà chúng tôi vẫn có thể chạy xe để đem Phúc âm đến cho dân làng.

 

Chiếc xe trở thành phương tiện học tập cũng như vận chuyển đầu tiên đối với tôi. Con trai Ả rập thán phục người Mỹ và nôn nóng muốn biết thêm về chúng tôi cùng những máy móc có công suất lớn của chúng tôi. Chính nhờ những mẩu đối thoại đầy thông tin quanh chiếc xe mà tôi học được từ vựng địa phương và cuối cùng có thể nói tiếng Ả rập đủ để giới thiệu về Chúa Giê-xu Christ cho đám trẻ. Vào lúc chúng tôi chuẩn bị rời làng thì thường có tới những hai mươi trẻ em Ả rập đánh đu theo xe! Bậc thềm lên xuống xe, hãm xung, mui xe, chắn bùn, tất cả đều chật nghẹt. Nếu không xua được chúng xuống, thì chúng tôi phải cho chúng dạo một vòng – chạy nhanh dần lên cho đến khi chúng phải xin dừng lại để leo xuống vì đã đi quá xa nhà.

 

Những chuyến phiêu lưu như vậy đã tạo cho tôi ngay từ thời ấu thơ một khuôn phép cho những lần tiếp xúc với người khác về sau. Tôi lớn lên cùng chia xẻ công việc với ba mẹ tôi và càng nhận biết rõ ràng hơn ý nghĩa của chức vụ đem Phúc âm cho những người đang cần ở những vùng đất mới.

 

Để thực hiện một chuyến đi nhiều ngày thường chúng tôi phải trang bị chiếc xe giống như đi cắm trại để có thể tự nấu ăn. Bảng liệt kê của chúng tôi gồm khoảng bảy mươi lăm món kể cả diêm quẹt, nồi hầm, dầu hôi, nước, cùng nhiều nhu yếu phẩm khác. Chuyến đi như thế này cho tôi có cơ hội thực tập những phong tục Ả rập như bắn ná làm bằng lông lạc đà hoặc uống nước từ bình bằng đất.

 

Mỗi nhà Ả rập đều có một bình nước cạnh cửa để giải khát người qua lại. Do cách uống của họ đòi hỏi phải khéo léo để vòi cách xa miệng, nên bình nước ít ra cũng giữ được vệ sinh tương đối cho mọi người khát. Tuy nhiên, bạn có thể tưởng tượng những lần thực tập ướt át, vui nhộn của chúng tôi trước khi thành thạo trong nghệ thuật uống với miệng vòi cách xa như thế.

 

Đám con trai Ả rập dạy tôi cách dùng loại ná mà Đa-vít dùng để giết Gô-li-át. Chúng tôi khám phá rằng Đa-vít không phải là một cậu bé chơi ná. Ná của người Palestine xưa chính là vũ khí thực sự, dùng đá gần bằng cỡ quả trứng gà để đánh nhau. Đá có thể được bắn đi thật chính xác cách xa cả trăm mét. Dây ná được làm bằng lông lạc đà, bện chặt dài khoảng một mét. “Bọc” chứa viên đá cũng được bện , lớn cỡ bàn tay người. Chúng tôi bỏ viên đá vào khoảng giữa dây tóc bện, quay tròn trên đầu mình, và phóng đi với tiếng kêu vút khủng khiếp giống như tiếng quất roi. Dĩ nhiên, chạy lấy đà ba bốn bước trước khi bắn sẽ tạo thêm lực đẩy thật lớn. Tôi nghĩ dùng ná là cách chơi thể thao tuyệt vời, nhất là khi tôi đạt đến chỗ có thể bắn trúng chiếc cột điện thoại khá đều đặn từ khoảng cách 50-60 mét.

 

Thỉnh thoảng chúng tôi được mời ở lại đêm khi đi thiếu chuẩn bị. Người Ả rập hiếu khách, nhưng tiện nghi trong nhà thật đơn giản. Tôi thấy vui khi sống với dân bản xứ, ăn thực phẩm của họ, ngủ dưới đất, dù rằng nền nhà thường có bọ chét. Thường thú vật cũng ở chung trong nhà với gia đình.

 

Khi có người lạ tới, dân làng thường muốn nghe người đó nói chuyện. Chủ nhà chúng tôi thường mời láng giềng vào uống cà phê. Đây là thức uống đắng, đậm đặc, màu đen, được giã trong cối gỗ với cái chày dài. Ông lý trưởng với bộ râu dài đen đong đưa trong tách, sẽ uống hớp đầu tiên, sau đó chuyền cho chúng tôi. Chúng tôi biết trước thế nào mình cũng phải uống để tỏ ra chấp nhận lòng hiếu khách của ông ta.

 

Tất cả mọi người đều tò mò về người khách mới tới, và tụ tập quanh nhóm lửa nhỏ vào cuối ngày là cách tiêu khiển tốt sau công việc đồng áng. Họ đặt câu hỏi và ba tôi trả lời. Tôi nhớ nhiều nhất khi ba tôi ngồi bên ánh lửa đội khăn trùm đầu của người Ả rập, nói cho dân làng về Chúa Giê-xu Christ – và thực sự đụng đến lòng họ.

 

Sau này khi gánh nặng về Tây Ban Nha càng gia tăng trong lòng tôi, tôi hồi tưởng lại một số sự kiện tại xứ Ả rập đã từng khơi dậy mối quan tâm trong tôi đối với kẻ hư mất. Ngay cả thời đó tôi cũng cảm thấy bị hạn chế chỉ làm chứng được cho từng một hoặc hai người. Chúng tôi chỉ trò chuyện được với một ít người khi ngồi quanh nhóm lửa trong làng. Và câu hỏi bắt đầu thành hình trong trí tôi: “Thế còn những người khác chưa hề có cơ hội thì sao?”

 

Thỉnh thoảng cũng có sự phản đối giữa vòng thính giả Ả rập, nhưng thường thì họ tỏ ra thực sự cở mở nhiều hơn. Những người hiểu và dâng lòng mình cho Chúa đã thay đổi toàn bộ lối sống của họ. Nhìn thấy họ từ chỗ chết được trở nên sống nhờ quyền năng của Phúc âm đã để lại ấn tượng không hề phai mờ trong tôi. Họ đã từ bỏ rất nhiều điều – nói dối, gian lận, ăn cắp, đa thê.

 

Ba tôi không bao giờ tranh cãi với họ về những việc làm tội lỗi của họ. Ông cho họ thấy niềm vui cùng phước hạnh của việc quay về với Chúa. Tuy nhiên, lúc đầu ông thấy đề tài “dâng hiến” là vấn đề tế nhị. Khi Chúa thành lập những nhóm nhỏ tín hữu đó đây, ông cảm thấy đã tới lúc phải nói cho họ biết về phần thưởng của việc dâng hiến. Ông thấy áy náy khi biết rằng tổng thu nhập hàng tháng của hầu hết các tín đồ, cả tiền mặt lẫn hàng hóa, chỉ hơn mười đô-la cho mỗi gia đình. Họ ăn bánh mì không, với một chút sữa chua và một ít dầu ô-liu để chấm bánh mì. Còn thịt ư? Chỉ cần một miếng thịt cừu đã là cả một bữa tiệc Giáng sinh rồi! Ba tôi thường hỏi chúng tôi: “Đó, những con người như vậy làm sao mình bảo họ dâng hiến cho Chúa được?”

 

Khao khát của ông là muốn họ biết dâng hiến xuất phát từ lòng yêu mến Chúa Giê-xu Christ – dâng rời rộng để biểu lộ tấm lòng tận hiến của mình.

 

Có một lần trong thời gian ông đang còn học tiếng, một thanh niên Ả rập rất yêu mến Chúa thông dịch cho ông. Trong bài giảng, khi ba tôi khởi sự đề cập đến việc dâng hiến thì anh thanh niên này quay sang nói với ông bằng tiếng Anh: “Nhưng ông Freed, ông không được bảo mấy người này làm chuyện đó.”

 

Ba tôi giục anh: “Anh cứ nói tiếp.”

 

“Nhưng mấy người này cực nhọc lắm mới sống được đạm bạc như vậy. Làm sao ông, một người Mỹ – với nhiều tiền của, có thể lại bảo những người này dâng tiền cho được?”

 

Đương nhiên là anh này không dịch tiếp nữa. Cho nên Ba tôi chỉ bảo: “Chúng ta sẽ thảo luận chuyện này sau.”

 

Sau sự việc trên, ba tôi phải trải qua nhiều tuần nhiều tháng nói chuyện và cầu nguyện với thanh niên tín đồ người Ả rập này trước khi anh tin rằng cách bày tỏ tình yêu cụ thể này chính là tín lý cơ bản của Tân Ước. Cuối cùng anh công nhận sự dâng hiến – dâng hiến cách vui vẻ, dâng hiến trong tinh thần hi sinh – là một chức vụ, một đặc ân của người tín hữu. Anh cũng tin rằng việc dâng những gì mình dễ dàng để dành ra không quan trọng mấy, nhưng Đức Chúa Trời muốn thử chúng ta cùng tình yêu chúng ta dành cho Ngài qua thước đo vật chất – bất chấp tình trạng tài chánh của chúng ta thế nào.

 

Trong gia đình, chúng tôi tin chắc Chúa đã bù đắp lại mọi khoản dâng phần mười và các khoản dâng hiến khác của chúng tôi – ngay cả khi khó dâng nhất – không chỉ trên phương diện vật chất mà theo nhiều cách khác nhau. Ba tôi quan ngại cho người Ả rập vì ông thành thật tin là mình bất công với những nông dân nghèo này, là những tín hữu tốt, nếu ông không dạy họ nguyên tắc dâng hiến. Và ông đã đúng. Chúng tôi luôn thấy rõ rằng khi Chúa Giê-xu Christ bước vào lòng người nào, thì một trong những dấu hiệu là người ấy sẵn sàng mở rộng ví tiền của mình.

 

Khi họ lớn lên trong tình yêu cùng ân sủng của Cứu Chúa, chúng tôi vui thỏa dự những bữa tiệc yêu thương thật với các tín đồ nông dân này suốt mùa thu hoạch. Trên sân đạp lúa, họ chất hai đống – chín lường cho riêng mình một bên và một lường nén thật chặt và tràn trề cho Chúa bên kia. Quả là một lời chứng chân thật về điều Chúa đang làm cho họ khi họ mang “đống của Chúa” qua phòng nhóm nhỏ bé và đổ ra trên nền nhà. Kết quả của việc dâng hiến vui vẻ này là họ đã có thể gửi những nhà truyền giáo sang các thị trấn lân cận để giảng Phúc âm. Các tín hữu này nổi tiếng khắp thế giới Ả rập như những gương nổi bật về sự dâng hiến hi sinh của những con người nghèo khó nhất. Họ là nguồn cảm hứng cho các giáo sĩ ở những nơi khác đến để chứng kiến, hoặc nghe đồn về, cơn phục hưng sâu sắc giữa vòng nông dân Ả rập của chúng tôi.

 

Kết quả trong chức vụ của ba mẹ tôi hầu như chắc chắn là nhờ đời sống cầu nguyện của mẹ. Lúc nào bà cũng đi trước chúng tôi một bước trong sự tận hiến và lòng trung tín. Bà đã dành bao nhiêu thì giờ cầu nguyện cho chồng cùng các con thì chúng tôi không bao giờ biết được. Câu Kinh Thánh được bà ưa thích –  “Các bước của người thiện do Đức Giê-hô-va định liệu” – được lồng vào đời sống cầu nguyện của bà. Nhưng câu đó luôn được cá nhân hóa qua lời cầu nguyện ngay tiếp theo sau của bà: “Lạy Chúa, xin khiến Ralph (hoặc Paul, hoặc Ruth) trở nên người thiện đó.” Lúc nào bà cũng tin là Cha thiên thượng  đang chăm sóc chúng tôi. Cách bà trò chuyện với Ngài thật đơn sơ và chân thành. Dầu ai có nghĩ thế nào thì bà cũng cứ trò chuyện với Chúa thật thoải mái – giống như chúng tôi trò chuyện với bà. Bà luôn luôn chủ trương xem mọi chuyện là bình thường.

 

Bà thường nói: “Chúng ta có một Đức Chúa Trời nghe và đáp lời cầu xin; và chúng ta đến với Ngài qua Chúa Cứu Thế Giê-xu Christ. Chỉ đơn giản thế thôi. Nếu Đức Chúa Trời nghe lời cầu nguyện, mà thật là vậy, và Ngài là Đấng toàn năng, thì chúng ta cứ việc đến với Ngài và xin Ngài.”

 

Một trong những ký ức vui nhất về thời thơ ấu của tôi có liên quan đến niềm tin của ba mẹ tôi vào sự kiêng ăn cầu nguyện. Mỗi thứ sáu, ba mẹ tôi biệt riêng buổi chiều tối ra cho mục đích này. Nhưng tôi nghĩ điều tạo ấn tượng trên tôi nhiều nhất khi còn bé chính là Ruth và tôi không bao giờ cảm thấy mình phải kiêng ăn với ba mẹ. Thật ra, vào những tối kiêng ăn cầu nguyện, mẹ tôi thường cố gắng chuẩn bị cho chúng tôi bữa ăn ngon nhất. Bà thường để cho chúng tôi tự quyết định muốn ăn gì nhất vào tối thứ sáu. Ắt hẳn phải là một cám dỗ lớn đối với bà khi chuẩn bị bánh mì nóng hoặc cơm gạo quế và khi mà nhà bếp tràn ngập mùi thơm ngon vào những buổi tối bà chẳng ăn gì cả. Chứng cớ này về tình yêu, cộng thêm việc ba mẹ để chúng tôi tự chọn thay vì ép chúng tôi làm giống như họ, đã thúc đẩy chúng tôi lớn lên trong ân sủng, khao khát học tập bước theo Đấng mà họ đã theo sát không rời. Mãi đến ngày nay, trong sự kiêng ăn cầu nguyện của mình, tôi vẫn liên tưởng tới một thời vui thích khó quên đã qua.

 

Cơm gạo quế vào những đêm kiêng ăn cầu nguyện, những câu chuyện quanh bếp lửa Ả rập, những chiếc ná lông lạc đà, những bình đất sét dùng uống nước – tất cả đều tích lại trong tâm trí non trẻ của tôi khiến tôi tự mình nhờ cậy Cứu Chúa, và cảm nhận trong trí cũng như trong lòng rằng phải chia xẻ Ngài với người khác . Khát vọng truyền giáo của tôi phải trải qua sự luyện lọc và trưởng thành, nhưng không bao giờ bị chệch khỏi hướng đi đã định sẵn từ thời thơ ấu của tôi. Gia tài lớn nhất của tôi chính là cuộc đời của ba mẹ tôi, vốn chứng minh Chúa Giê-xu Christ cho tôi qua những chứng cớ yêu thương thường ngày của họ. Toàn bộ cuộc sống chung những ngày đầu tiên đã đặt nền móng cho lòng trung thành của riêng tôi đối với Đấng Christ.

 

Câu chuyện chúng tôi sẽ kể qua cuốn sách này về phép lạ của Đức Chúa Trời trong việc thiết đặt chức vụ phát thanh của chúng tôi chỉ có thể hiểu được trong ánh sáng của những ảnh hưởng đã từng khuôn đúc nên cuộc sống của tôi khi còn bé.

 

Kỳ tới: Chương IV: Được nên người

Nếu các bạn muốn đọc các chương trước, xin liên hệ vuian@hotmail.com. Thân ái.


Họ và tên (*) Email (*)
Hiển thị email
Nội dung
 

Tháp Vĩnh Cửu: Chương XIII - Nước Đức đi đầu Các nhân viên giỏi giang của phòng soạn chương trình tại...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương XII - Sẳn sàng đến Monte Carlo Trong năm xây dựng và chuẩn bị tại Monte Carlo, vợ chồng...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương XI - Phép lạ tại MONACO tôi tự hỏi tại sao chúng ta lại thấy khó tin mỗi khi một...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương X - Những thách thức mới Tiếp theo là giọng ba tôi: “Paul à, Đức Chúa Trời đã làm...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương IX - Được thăng tiến
Tháp Vĩnh Cửu: Chương VIII - Đài tiếng nói Tangier Tôi thường thấy rằng Đức Chúa Trời sẽ đưa người tín đồ hầu...
   Đăng nhập | Đăng ký