Tháp Vĩnh Cửu: Chương IV - Được nên người

Tuy nhiên, những mối ràng buộc thân thiết giữa tôi với ba mẹ như thế cũng tạo ra nỗi nhớ nhà kinh niên đeo đẳng tôi suốt những ngày đi học xa nhà. Một trong những khó khăn lớn nhất cho một gia đình sống xa quê hương chính là sự xa cách mà họ thường phải chịu đựng khi cho con cái đến học tại các trường tốt.

 

Những lần chuyển từ trạm truyền giáo này sang trạm truyền giáo khác, hoặc từ môi trường phục vụ ở hải ngoại về nghỉ phép tại quê nhà, đã đẩy chúng tôi vào những bối cảnh giáo dục khác nhau. Chúng tôi theo học trường của người Anh và người Đức tại Giê-ru-sa-lem, rồi một trường của cộng đồng Mỹ tại Beirut. Có một số lớp thì mẹ tôi dạy, và có những lớp thì bà mời thầy dạy kèm đảm trách việc học của chúng tôi.

 

Khi tôi tới Wheaton, Illinois, để ghi danh vào một trường trung học tư thục thì họ chấp nhận cho tôi học lớp mười mặc mặc dù tôi chưa hề học lớp chín tại bất cứ nơi nào. Nhưng để hiểu lý lẽ của họ đằng sau quyết định đó tại Wheaton, thì cần phải quay trở lại thời tôi còn học tại Bết-lê-hem.

 

Thậm chí là phải quay trở lại những ngày tôi còn học tại Giê-ru-sa-lem, nơi mà vào lứa tuổi mười một mang tính quyết định tôi đã được gửi đến sống tại một ngôi nhà truyền giáo với hai nữ giáo sĩ độc thân. Còn có gì tệ hơn việc bị cấm cung một mình chung với hai phụ nữ xa lạ – đúng lúc tôi đang ý thức dần về niềm kiêu hãnh phái mạnh của mình?

 

Số tiền ba mẹ tôi gửi đều đặn từ Dera’a tiêu biến nhanh chóng khi mà mỗi ngày tôi đều đi tới trạm bưu điện và phòng điện thoại. Những lá thư – viết cho ba mẹ tôi – nói lên nỗi hi vọng khôn nguôi của tôi mong được trở về nhà để sống cùng với họ. Những bức điện tín là những lời khẩn khoản vòng vo xin ba tôi cứu tôi khỏi tình thế mà tôi cảm thấy không thể chịu đựng được nữa.

 

Chắc chắn là mấy cô trong ngôi nhà truyền giáo cũng không sung sướng gì hơn tôi về việc ba tôi đã nhờ họ chăm sóc cậu con trai nhỏ của ông. Tôi nghĩ là họ chưa có kinh nghiệm làm bảo mẫu cho những đứa con trai nhớ nhà, nhưng họ rất cương quyết về những việc tôi phải làm. Tôi không biết là họ có cảm thấy thành công khi thường xuyên khó khăn với tôi hay không; nhưng tôi biết chắc họ đã thành công trong việc khiến tôi khốn khổ liên tục.

 

Người lớn tuổi hơn trong hai nữ giáo sĩ, người chính thức lo cho sinh hoạt của tôi, một hôm cho rằng tôi không tắm đủ. Cô cũng đưa ra một quyết định nguy hiểm là, vì không thể để tôi tự tắm rửa được, nên cô sẽ tắm cho tôi.

Tôi hét to: “Bà không được tắm cho tôi đâu!”

 

Cô D– dằn giọng: “Sao lại không nhỉ?”

 

Lúc đó cô L– trẻ hơn, nhưng cũng cương quyết không kém – bước vào để tăng cường cho sức tiến công của đối phương.

 

Cô cảnh cáo: “Paul Freed này, tôi muốn em biết là tôi sẽ hổ trợ Cô D–. Và tôi cũng sẽ lưu ý để em phải tắm rửa đàng hoàng!”

 

Khi cô cầm chổi đến gần tôi, tôi bỏ chạy. Qua mặt cô ta nhanh như chớp, tôi nhảy một bước hết mấy bậc thềm, tung cửa trước và tiếp tục chạy ra đường có tường cao hai bên. Khi tôi nhìn lại sau, qua bờ vai mình, Cô L– đang chạy lõm bõm sau lưng tôi, vung chổi trên đầu. Những người Ả rập ở “Phố Các Tiên Tri” (Street of the Prophets) né sang một bên khi cuộc rượt đuổi tiếp diễn; họ nhìn chúng tôi cách ngạc nhiên và thích thú trong khi tôi chạy vòng về nhà truyền giáo và trèo qua tường.

 

Cô ở ngay sau lưng tôi, quơ chổi thật mạnh. Tôi nhảy xuống từ tường bên này, chạy băng qua sân, trèo lên tường phía bên kia. Và Cô L– lúc nào cũng sát nút tôi.

 

Cuối cùng, cô ta hổn hễn la lên: “Được rồi, chúng ta hãy bàn chuyện này.”

 

Tôi không nhớ rõ về cuộc nói chuyện. Nhưng tôi biết là mình đã được tự tắm lấy.

 

Ba Mẹ tôi cố gắng hiểu nỗi khó khăn của tôi trong thời gian đó , và cuối cùng cho phép tôi trở về Dera’a với họ một thời gian. Nhưng tôi không thể bỏ học và chẳng bao lâu tôi lại thấy mình sống tại Bết-lê-hem trong ngôi nhà truyền giáo chung với bà Bernice Gibon cùng hai đứa con. Hoàn cảnh ở đây khá hơn, vì ngoài con gái và con trai của bà, còn có con cái của giáo sĩ sống ở đó, và bà chăm nom tất. Dầu vậy tôi cũng vẫn nhớ nhà.

 

Khi tôi được mười ba tuổi, họ dời nhà truyền giáo đến ngoại ô Giê-ru-sa-lem. Vì lý do nào đó, cuối cùng tôi lại là đứa con trai duy nhất trong nhóm mà theo trí óc non nớt của tôi, thì tình trạng đó không thể nào chịu được. Thế là tôi quyết định làm một việc liều lĩnh và táo bạo.

 

Một đêm nọ, tôi viết thư cho vị giáo sĩ phụ trách. Sau đó, trước khi rạng đông, tôi rón rén ra khỏi nhà rồi gia nhập đoàn người đi vào trung tâm Giê-ru-sa-lem. Sau khi đánh điện tín cho ba tôi để yêu cầu ông đón tôi tại Ti-bê-ri-át, Ga-li-lê, tôi gặp một xe chuyên chở công cộng đi về hướng bắc. Suốt đường đi tôi thắc mắc không biết ông sẽ phản ứng ra sao, nhưng lòng tôi rộn ràng vui mừng khi nhìn thấy gương mặt yêu dấu của ông giữa đám đông khi chúng tôi tiến vào trung tâm Ti-bê-ri-át. Ông cố gắng thuyết phục tôi rằng tôi đã cư xử sai lầm, nhưng tôi vẫn còn có thể nhớ là mình cảm thấy đã làm đúng khi tôi tìm cách giải thích: “Ba ơi, con có để lại cho họ lá thư rồi mà. Bây giờ thì họ biết là con đang trên đường về nhà. Con không có gì chống đối họ. Con chỉ nhớ nhà kinh khủng, thật kinh khủng. Ba cho con về nhà, được không Ba?”

 

Ông lo cho việc học của tôi nhưng cuối cùng ông nói sẽ cho tôi ở nhà nếu tôi hứa học chăm.

 

Trong đời mình, trong bất kỳ môi trường học tập chính thức nào, tôi chưa bao giờ tôi chăm học như tôi đã học trong năm kế tiếp tại nhà. Tôi tự học toàn bộ chương trình của năm lớp chín một mình, viết ra những cuốn sách thật dài. Tôi viết một sách về những xứ chúng tôi đã đến ở châu Âu – lịch sử, địa lý, chính quyền, xã hội học, phong tục – mọi thứ tôi có thể tìm biết đều đi vào câu chuyện tôi kể. Sau đó tôi lục hàng đống hồ sơ và tạp chí du lịch để tìm hình ảnh minh họa cho sách của tôi.

 

Khi chúng tôi về Wheaton, Illinois, và đến trường trung học tư thục Wheaton thì tôi có mang theo sách đã viết. Nhân viên phòng ghi danh nghiên cứu nghiêm túc các sách đó và thấy xứng đáng để được miễn một số tín chỉ, nên đã cho tôi vào học lớp mười.

Sau năm về nghỉ phép đó, ba mẹ tôi cùng với Ruth và tôi trở lại Trung Đông. Lần này tôi được gửi đi Beirut, Lebanon, nơi tôi tốt nghiệp Trường Cộng đồng Hoa Kỳ, được sáng lập bởi ban giảng huấn của Đại học Hoa kỳ tại Beirut. Chỉ có 100 học sinh trong toàn trường, và lớp tốt nghiệp của tôi có ba người.

 

Một học sinh khác của lớp, Philip Freidinger, và tôi kết bạn thân với nhau. Cậu là con trai của vị giáo sĩ Hội thánh Trưởng lão tại Lebanon. Sau khi gắn bó đời mình với nhau thật thân thiết năm học mười một và mười hai – nào bơi thuyền, chạy xe đạp, cắm trại, trò chuyện, cầu nguyện với nhau – chúng tôi quyết định cùng vào học tại trường Wheaton College. Từ lâu đây vẫn là kế hoạch của tôi, nhưng đối với Phil thì đó là sự thay đổi khá quan trọng vì anh đã được nhận vào học tại đại học Oberlin CollegeOhio.

 

Mùa hè 1936 Phil và tôi rời cha mẹ tại Beirut để đi Wheaton. Một tháng trong vùng Alps Thụy sĩ cùng một chuyến chạy xe đạp xuyên qua nước Anh giúp chúng tôi có được lợi thế ban đầu cho việc học đang chờ đợi chúng tôi tại Wheaton College.

 

Chúng tôi dọn về một căn nhà tư nhân gần khuôn viên đại học và ngay tức khắc, tôi bị tiếng là lười biếng. Tôi không làm những loại công việc bình thường của khu đại học mà hầu hết sinh viên đều làm nhưng dường như lại không thích hợp với tôi. Trong khi Philip làm việc trong phòng ăn, thì tôi bán thiệp hoa cùng những đồ thủ công Palestine cho cư dân tại Wheaton và các vùng ngoại ô gần đó. Tôi rất thích Philip, nhưng lại gặp một tình huống thật chán nản. Tôi không bao giờ có thể làm bất cứ điều gì đúng. Cứ mỗi khi làm một điều gì là tôi cũng bị hạ một câu: “Sao cậu không làm giống như cách Philip đã làm?”

 

Gia đình kế tiếp mà tôi đến sống sau này lại tỏ ra thái độ khác hẵn. Bà Stevens, một góa phụ, biết cách lắng nghe đám con trai chúng tôi cũng như tạo lập mối thông công mang tính xây dựng với chúng tôi, qua hành động cũng như lời nói. Bà cùng với con trai, Earle, là những con người được tình yêu của Đức Chúa Trời chạm đến và đã hết lòng một cách sáng tạo để đem tình yêu của Ngài đến cho người khác qua thái độ cùng nếp sống hàng ngày của họ. Mỗi người chúng tôi đều quan trọng và được quí trọng vì cớ bản thân mình. Điều này giúp chúng tôi tự do phát triển, phục vụ và học hỏi.

 

Đó chính là tất cả sự khác biệt trên đời này giữa hai thái độ. Và tôi cảm nhận được rằng nếu tôi phải quan tâm đến những nhu cầu của con người qua đời sống này, thì tôi phải sẵn sàng quan tâm với tinh thần hy sinh; còn không thì tôi sẽ chẳng làm được gì cả.

 

Bốn năm ở Wheaton thật bận rộn. Mối quan tâm đến người khác trong tôi đã đưa đẩy tôi vào nghành nhân chủng học, nhưng không có điều gì trong những năm đại học gợi ý rằng làm việc trong một đài phát thanh truyền giáo sẽ trở thành công việc trọn đời của tôi.

 

Bức tranh tài chánh là điều liên tục khiến tôi ngạc nhiên. Ba mẹ tôi liên lạc và gửi cho tôi mỗi tháng mười đô-la, dĩ nhiên chẳng trang trải được gì nhiều. Chưa bao giờ tôi có thể biết chắc được chi phí đại học của mình sẽ được thanh toán như thế nào. Việc chúng tôi theo Chúa qua nhiều năm tháng đã đem chúng tôi đến đời sống tin cậy đơn sơ – giống như hoa huệ ngoài đồng, thay vì cảm giác an toàn với tài khoản ngân hàng.

 

Tôi có ở Gary, Indiana, một mùa hè và làm việc trong một nhà máy cán thép – vào ca chuyển tiếp, vì lương cao hơn. Tiền kiếm được tôi đã thận trọng dự tính để dành cho học phí mùa thu năm sau. Tuy nhiên, mắc một chứng bệnh lây nhiễm nghiêm trọng chẳng những buộc tôi phải nghỉ việc nhiều tuần mà còn phải thanh toán viện phí đắt đỏ, khiến bao nhiêu tiền kiếm được đều sạch láng. Cuối hè, tôi đi xe nhờ về lại Wheaton chẳng còn lấy một xu cho năm học sắp tới.

 

Mọi việc đều êm xuôi cho tới lúc tôi đứng bên quày đóng học phí trong dòng người ghi danh. Tôi xin hưởng những điều khoản dễ dãi nhất có thể được, và họ nói tôi không thể nào ghi danh nếu không đóng một trăm Mỹ kim. Ba mẹ tôi hiện cách xa tôi một phần ba vòng trái đất. Tôi đã làm việc chăm chỉ tối đa suốt mùa hè qua. Tôi cảm thấy chắc chắn là mình phải tiếp tục học xong đại học. Tôi cần một trăm Mỹ kim mà lại chẳng có tới một xu. Tôi không phải biết quay sang đâu để có được.

 

Có người hớn hở bảo tôi nghỉ học và đi làm trong một khóa. Tôi bước ra khỏi dòng người ghi danh vào giữa trưa, thế mà lại giống như đang bước đi trong màn đen lúc nửa đêm. Tôi chưa bao giờ chán nản đến thế trong đời mình.

 

Tôi kêu lên: “Lạy Chúa! Chắc chắn Ngài biết rõ nhất. Ngài muốn con làm gì bây giờ?”

 

Trong khi tôi đi qua các sảnh đường băng ngang khu đại học, mọi người chào: “Chào Paul.” Nhưng tôi đang bị nhận chìm trong biển tuyệt vọng rối rắm của mình, nên chẳng nhận ra ai cả. Chẳng còn gì có ý nghĩa nữa.

 

Sau một giờ đồng hồ lang thang vô định, tôi quyết định điều duy nhất mình có thể làm là quay về làm việc lại tại nhà máy cán thép. Tôi nghĩ mình phải tìm cái gì ăn trước khi lên đường, nhưng tôi cảm thấy khốn khổ đến nỗi không biết mình có nuốt nổi hay không.

 

Bỗng nhiên, giữa những âm thanh và gương mặt lờ mờ vì nước mắt, tôi nghe gọi tên mình: “Ê, Paul, cậu không nghe loa gọi tên cậu à? Có người muốn gặp cậu đó.”

 

Khi tôi tới phòng ghi danh, Tiến sĩ Enoch Dyrness nói với tôi: “Paul à, tôi biết là anh muốn đăng ký. Tôi có một tin nho nhỏ cho anh mà chắc sẽ khiến anh vui. Có ai đó nặc danh đã gửi một món quà vào tài khoản của anh. Đó là ngân phiếu một trăm đô-la.”

 

Miệng tôi há hốc và tôi cảm thấy nước mắt xốn xang dưới mi. Tôi thấy lại hình ảnh căn hộ tại Nyack với thực phẩm chất đống trên sàn, trên ghế, trên bàn. Tiến sĩ Dyrness có lẽ không thấy được mọi điều đang diễn ra trong trí tôi khi ông mỉm cười và nói: “Đây há không phải là cách Đức Chúa Trời hành động sao?”

 

Nhiều năm sau tôi mới biết ai đã gửi quà đó. Một giáo sĩ tại Trung hoa có nghe nói về tôi, qua một số sinh viên tại Wheaton. Một hôm tên tôi cứ xuất hiện mãi trong trí ông. Dường như Đức Chúa Trời phán với ông: “Con phải giúp cho Paul Freed.” Không thể gạt bỏ ý nghĩ đó, ông đã vâng phục và từ món tiền rất ít mình đang có, ông đã trích ra một trăm đô-la để gửi cho tôi. Đức Chúa Trời đưa món tiền đó vượt 10.000 dặm đúng lúc để chận đứng sự tuyệt vọng của tôi. Nếu tiền tới trễ một hôm, chắc hẳn tôi đã lên đường trở về nhà máy cán thép rồi.

 

Ngoài các việc khác mà tôi làm vào mùa hè – một năm tại Công ty Pontiac Motor ở Michigan, và một năm làm quản lý kinh doanh cho chuyến Du lịch Xứ Thánh – tôi cũng làm dây nịt kiểu như một hoạt động kinh doanh nhỏ của riêng mình. Càng ngày tôi càng thấy khó làm việc cho người khác mà có thể giữ được cán cân thu chi. Phải làm một việc gì khác. Thế là tôi bắt đầu thiết kế dây nịt từ những vật liệu khác lạ.

 

Tại Chicago tôi tìm ra những công ty cắt ra những mẫu vật nho nhỏ giống hệt nhau từ vỏ quả hạch, gỗ, bần, nhựa, kim loại, da. Được cung cấp dây da và dây thừng màu chắc chắn, tôi bắt đầu một mình làm ra nịt ngay tại chiếc bàn nhà bếp. Sau khi nhận được quá nhiều đơn đặt hàng và chẳng biết phải làm sao, tôi tìm người giúp mình. Những sinh viên khác muốn làm việc từng công đoạn, về sau đã cộng tác với tôi với tiền công hiện hành trong đại học cho tới khi chúng tôi chiếm trọn tầng hai của một ngôi nhà tại Wheaton. Trước hết chúng tôi tiếp thị sản phẩm mới của mình qua nhiều cửa hàng khác nhau. Nhưng ngay sau đó chúng tôi mới thấy mình không thể bán ra thị trường đó với số lượng đủ để có lời.

 

Tôi tới New York City và tiếp xúc với công ty J. C. Penny. Vị khách hàng đặc biệt nói chuyện với tôi là một trong những người lịch sự nhất mà tôi từng gặp. Ông ta say mê câu chuyện của tôi đến nỗi giao cho công ty thử bán vài mẫu dây nịt. Họ bán chạy đến độ cuối cùng chúng tôi nhận được nhiều đơn đặt hàng quá sức giải quyết của mình. Từ đó chúng tôi bán hàng vạn dây nịt rộng rãi khắp 1600 cửa hàng của J. C. Penney.

 

Công việc tiếp tục tại Wheaton suốt hơn hai năm, và lợi tức từ các loại dây nịt mới lạ của công ty DuPage Craft không chỉ giúp tôi học xong đại học cùng Viện Đào tạo Giáo sĩ, mà còn giúp nhiều sinh viên khác đáp ứng nhu cầu của họ nữa.

 

Mùa thu năm 1942, tôi ghi danh vào học tại Nyack – tại cùng ngôi trường ba tôi theo học hai mươi năm về trước. Việc học của tôi về sau tại Nyack tương đối dễ dàng hơn và tôi hoàn tất khóa học ba năm tại Missionary College chỉ trong hai năm.

 

Lúc nào tôi cũng quan tâm đến vấn đề truyền giáo, nhưng trong trí tôi chắc chắn rằng những hoạt động sau này chịu ảnh hưởng lớn bởi nhiệt tình truyền giáo tại Nyack. Nhìn xuống dòng sông Hudson River, ngôi trường – vốn là Trường Kinh Thánh lâu đời nhất tại Bắc Mỹ – được các cựu sinh viên trìu mến gọi là “núi cầu nguyện và phước hạnh.”

 

Suốt thời gian ở đại học, tôi học về công tác truyền giáo trực tiếp từ các giáo sĩ vừa mới trở về từ công trường phục vụ của họ, và học nhiều về Lời Đức Chúa Trời qua việc nghiên cứu Kinh Thánh có hệ thống. Tuy lúc đó tôi không hoàn toàn hiểu hết giá trị của chương trình nhưng bây giờ tôi biết là Chúa đã phán với tôi về “những miền xa xăm” qua môi miệng cùng đời sống của những giáo sư tin kính như tiến sĩ Harold Boon, mục sư Gilbert Johnson, và tiến sĩ Thomas  Moseley; và qua những chính khách truyền giáo như  Samuel Zwemer, chuyên gia có uy tín về thế giới Hồi giáo, và Clarence Jones, người tiên phong về chương trình phát thanh truyền giáo từ đài HCJB tại Quito, Ecuador.

 

Song song với việc học, tôi cũng mở vài Hội thánh, quản lý việc kinh doanh dây nịt vẫn còn trụ sở chính tại Wheaton, Illinois, và học thêm vài môn học nữa tại trường Columbia University.

 

Lễ Giáng sinh trước kỳ tốt nghiệp có tổ chức một loạt các hoạt động giới thiệu đã ảnh hưởng quãng đời còn lại của tôi. Một số trong chúng tôi muốn làm một việc gì đó để thay đổi nhưng không biết đi đâu. Trong buổi bàn luận thân mật, chúng tôi quyết định sẽ mua sáu chiếc xe Ford Model A và sửa chữa lại để bán, rồi lái xuống phía nam. Chúng tôi gom hết mọi phiếu mua xăng, pha chế ra một công thức nhiên liệu đặc biệt, dùng nước tẩy rửa – mà tôi cũng không nhớ pha chế thế nào – rồi lái xuống tận Durham, bang North Carolina. Tất cả xe đều bán hết trong khu bán đấu giá và chúng tôi được một kỳ nghỉ hè.

 

Vì lý do nào đó, tôi kiếm được đủ tiền trước mấy anh chàng khác, cho nên tôi trở lại Nyack; nhưng Eugene Evans, bạn cùng phòng với tôi, vẫn còn ở lại vài hôm. Khi về, anh nói ngay: “Thật uổng quá, Paul ạ. Chúng tôi đi dự một tiệc Giáng sinh ở nhà thờ, và gặp nhiều người rất vui. Lẽ ra anh phải có ở đó. Tôi gặp bạn gái của Clarence. Cô ta cũng được lắm đấy! Đáng lý ra là anh phải ở lại. Cô ta được lắm. Cô ta đúng ngay chóc mẫu người mà anh vẫn thường đề cập!”

 

Tôi không quan tâm. “Tôi không hiểu tại sao anh lại đi nói với tôi về bạn gái của người khác!”

 

Tôi cũng đã tình cờ hẹn hò với vài cô, nhưng chưa có gì là nghiêm túc. Nhưng Gene Evans không chịu bỏ qua đề tài về cô gái mà anh gặp ở Durham. Tôi phản đối: “Gene nè, tôi mong anh đừng nói nữa. Sao anh lại cứ quấy rầy tôi về một cô gái đã từng cặp với bạn mình chứ?”

 

Anh lặp lại: “Ừ, thì tại tôi thấy cô ta rất là được.”

 

Tôi nổi nóng: “Anh làm ơn im đi cho, được không?”

 

Nhưng Gene không nản. Anh hít một hơi thật dài rồi tiếp: “Freedly ạ, tất cả những gì mà tôi có thể nói với anh là thế này: tôi đã từng chịu đựng anh suốt hai năm ở trường đây, và tôi biết ý thích của anh, tôi biết mẫu các cô mà anh thích, và tôi muốn anh nghe tôi bây giờ nếu chẳng bao giờ muốn nghe nữa. Đúng là cô ta rồi! Tôi hoàn toàn chắc chắn đó là người thiếu nữ dành riêng cho anh. Nếu gặp cô ta, tôi bảo đảm là anh sẽ đồng ý ngay!”

 

Tôi dịu bớt chút đỉnh và đáp trả: “Thôi được rồi, Gene, cứ cho là cô ta như vậy. Nhưng mà tôi nghĩ anh thật điên khùng khi nói với tôi một chuyện quan trọng như thế dựa vào chứng cớ hời hợt như vậy. Tôi nghĩ là anh chẳng hợp lý chút nào. Nhưng cho dù cô ấy đúng như vậy, thì cô ấy cũng đang cặp bồ với Clarence. Mà anh ấy cũng là bạn của tôi. Và tôi không hề có ý muốn hạ anh ta vì một cô gái mà tôi chưa hề để mắt tới!”

 

Anh vẫn cứng rắn: “Tôi không cần biết cô ấy hiện đang cặp bồ với ai. Dù sao thì họ cũng chỉ mới hẹn hò thôi. Tôi đã gặp cô ấy. Và tôi biết đúng là cô ấy rồi!”

 

Sau vài hôm anh ấy lắng xuống và tôi quên bẵng câu chuyện. Nhiều tháng trôi qua và đã tới ngày tốt nghiệp. Hôm ấy là buổi sáng cuối cùng ở trường. Tôi đang ở trong bưu điện kiểm tra thư từ. Môt chị quen với tôi đứng bên cửa ra vào đọc thư. Khi chào từ biệt, chị này bảo vừa mới nhận được thư bạn gái của em trai chị từ Durham, North Carolina. Một điều gì đó chợt lóe trong trí tôi. Chị này là chị của Clarence; em trai chị chính là anh chàng lâu nay vẫn hẹn hò với cô nàng mà người bạn cùng phòng với tôi đề cập hôm Giáng sinh. Tôi nghiêng đủ gần để liếc nhìn phong bì nơi tay chị. Đúng rồi. Đúng là cái tên mà người bạn chung phòng với tôi khăng khăng nhắc tới mùa đông vừa qua, Betty Jane Seawell.

 

Chẳng suy nghĩ, tôi nghe mình hỏi: “Chị xé cho tôi xin nắp phong bì đó được không, chị Eva?”

 

Chị ấy thoải mái xé nắp phong bì đưa cho tôi. Tôi nhét vào ví rồi quên luôn.

 

Kỳ tới: Chương V: Thư gửi một thiếu nữ

Nếu các bạn muốn đọc các chương trước, xin liên hệ vuian@hotmail.com. Thân ái.

 

 

 


Họ và tên (*) Email (*)
Hiển thị email
Nội dung
 

Tháp Vĩnh Cửu: Chương XIII - Nước Đức đi đầu Các nhân viên giỏi giang của phòng soạn chương trình tại...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương XII - Sẳn sàng đến Monte Carlo Trong năm xây dựng và chuẩn bị tại Monte Carlo, vợ chồng...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương XI - Phép lạ tại MONACO tôi tự hỏi tại sao chúng ta lại thấy khó tin mỗi khi một...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương X - Những thách thức mới Tiếp theo là giọng ba tôi: “Paul à, Đức Chúa Trời đã làm...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương IX - Được thăng tiến
Tháp Vĩnh Cửu: Chương VIII - Đài tiếng nói Tangier Tôi thường thấy rằng Đức Chúa Trời sẽ đưa người tín đồ hầu...
   Đăng nhập | Đăng ký