Tháp Vĩnh Cửu: Chương V - Thư gửi một thiếu nữ

                 Vào mùa hè tôi dọn tới Greenville, bang South Carolina. để lập một Hội thánh. Vừa mới xong được một năm ở đó, một hôm tôi xếp lại ví da. Tôi tìm thấy một nắp phong bì tam giác đã bạc màu và tính ném vào giỏ rác, thì nhớ lại mẩu đối thoại cách đây mười tám tháng. Bất giác, tôi quyết định làm một việc mà tôi chưa hề làm trước đây – viết thư cho người có tên ghi trên tấm giấy bạc màu này.

 

Tôi không nhớ mình đã từng viết thư cho thiếu nữ nào cả. Lúc nào tôi cũng cảm thấy mình phải vui vẻ với những người mình tiếp xúc, thay vì tách mình ra, chui vào một xó xỉnh để liên lạc với những người mình không thể gặp được. Triết lý hiện tại của tôi dường như là: hãy vui thích mọi người khi ở với họ, và khi không còn ở chung nữa thì hãy vui với những người mình mới gặp. Bạn có thể thấy đó, tôi chưa bao giờ thích viết thư cho lắm.

 

Thật ra, hẳn tôi đã không giữ mảnh giấy này nếu Gene Evans không làm ầm ĩ như thế về cô gái này! Bây giờ tôi không biết nói gì với cô ấy trong thư. Mọi việc thật là vớ vẩn! Tôi chưa hề tiếp xúc với cô ta, thậm chí cũng chưa thấy mặt. Thế mà bây giờ lại cố gắng viết một lá thư nghe cho hợp lý để gửi cho một thiếu nữ mà người bạn cùng phòng với tôi đã gặp vào một tối cách đây một năm rưỡi. Tôi không biết hoàn cảnh hiện tại của cô ấy ra sao. Có vẻ đây là một việc làm điên rồ. Nhưng dù sao thì tôi cũng viết xong.

 

Trong ba tuần nữa, tôi phải tham dự một hội đồng mục sư cách quê nhà cô ấy không xa lắm. Cho nên trong thư tôi hỏi xem mình có thể ghé qua gặp cô ta được hay không, với lý do cô là bạn tình cờ của người cùng phòng với tôi ở Nyack.

 

Tôi không nhận được thư trả lời, và phân vân không biết có nên đi tàu hỏa thẳng tới hội đồng, hay lái xe để có thể ghé ngang nhà cô ấy ở Carthage.  Buổi sáng cuối cùng tôi đã soạn đồ đạc xong xuôi. Tôi để xe trong khu đậu xe rồi đi bộ tới nhà bưu điện kiểm tra thư từ. Chẳng có thư nào cả. Tôi xách va-li theo và đi về hướng nhà ga. Bỗng nhiên tôi bị một người đàn ông chận lại: “Ông Freed ơi, tôi phải nói chuyện với ông. Tôi gặp nan đề kinh khủng lắm.” Tôi chỉ nhớ mặt anh này. Tôi mỉm cười và nói: “Được rồi, tôi sẽ cầu nguyện cho anh.”

 

Anh giải thích: “Không, còn quan trọng hơn thế nữa kia. Ông phải giúp tôi ngay bây giờ. Tôi đang gặp rắc rối.”

 

“Tôi rất tiếc, xe lửa tôi chạy lúc 10 giờ 30, và tôi sẽ bị trễ tàu, nếu dừng lại nói chuyện với anh bây giờ. Mình hãy hẹn nhau tuần tới, sau khi tôi trở về đi nhé?”

 

Anh ta có vẻ cương quyết: “Tôi không biết phải nói với ông thế nào. Tôi biết chắc chuyến tàu của ông rất quan trọng. Nhưng tôi không thể tưởng tượng được chuyến tàu của ông – cho dù có đưa ông tới đâu – lại có thể cấp bách hơn điều tôi đang cần ông giúp. Ông không hiểu được sao? Cuộc sống đã kết thúc với tôi rồi. Tôi tiêu rồi. Đời tôi thật vô vọng. Không có lối thoát. Tôi cần được giúp đỡ.”

 

Tới lúc này thì tôi cũng quẫn trí như anh ta: “Nhưng tôi đang bận đón tàu . . .”

 

“Tôi cần giúp đỡ.”

 

“Có thể người khác sẽ giúp anh.”

 

“Không, tôi chỉ…” Anh ta ngừng rồi nói tiếp: “Ông – ông chính là người phải giúp tôi!”

 

“Anh có ý nói là cho dù tôi có bị trễ tàu ư?”

 

“Đúng! Ông không hiểu được sao? Tôi cần được giúp . Và tôi muốn ông cùng đi với tôi ngay bây giờ để giúp tôi.”

 

Tôi xách va-li lên, khoác tay anh, rồi quay về chỗ tôi đã đậu xe.

 

“Thôi được, nếu vấn đề thực sự quan trọng như vậy thì tôi nghĩ là mình không thể chọn lựa. Tôi sẽ làm điều mình có thể làm để giúp anh.”

 

Tôi chở anh ngang qua thị trấn, đến nhà thờ của tôi. Thực sự đây là một cửa hàng được cải tạo lại, nhưng bên trong thật đẹp. Chúng tôi tự đóng lấy ghế ngồi. Ánh sáng phản xạ và êm dịu. Sàn đều trải thảm. Chúng tôi bước vào và ngồi xuống. Anh bắt đầu kể cho tôi nghe làm sao mà rốt cuộc rượu đã sai khiến anh ta.

 

“Tôi tiêu rồi. Chẳng còn lý do nào để tiếp tục sống nữa. Tôi có người vợ rất tốt. Nhưng bà ấy nói không thể chịu đựng tôi được nữa. Bà ấy đã chấm dứt với tôi rồi. Bà ấy đã chịu đựng tôi hết mức, và tôi không trách bà ấy. Tôi về nhà say mèm, đánh đập con cái. Chúng khiếp sợ tôi. Chúng chịu đói khát. Tôi chẳng ích lợi gì cho ai cả. Vợ tôi nói với tôi: ‘Ông hãy ra khỏi nhà, và đi luôn đi. Tôi hết tình nghĩa với ông rồi.’ Thật ra thì tôi cũng chẳng còn luyến tiếc gì bản thân mình nữa. Tôi đang nghĩ cách phải chấm dứt như thế nào đây.”

 

Tôi nói với anh là thực sự có một Đức Chúa Trời yêu thương anh, bất chấp tình trạng bê bối khủng khiếp đó của anh, rằng Chúa Giê-xu Christ có thể thay đổi cả cuộc đời anh. Thánh Linh hiện diện dẫn dắt tôi sáng hôm ấy, và giữa luồng xoáy của lời thú tội tuyệt vọng từ người đàn ông này vẫn là sự bảo đảm về tình yêu cùng sự tha thứ của Đức Chúa Trời. Vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, tôi xin nói rằng người này đã được cứu cách kỳ diệu. Chúng tôi cùng cầu nguyện xin Chúa thay đổi cách sống đồi trụy của anh.

 

Tôi đưa anh về với gia đình sau khi đã nói chuyện và cầu nguyện xong, và vợ anh lắng nghe câu chuyện anh kể lại. Chị nói: “Đây là điều kỳ diệu nhất mà tôi từng được nghe,” rồi chị cũng dâng lòng mình cho Chúa Giê-xu. Lệ lăn dài trên má của cả hai người khi họ cầm tay nhau, và chị nói: “Tất nhiên là nếu ông ấy nghiêm túc thì tôi cũng muốn ông ấy quay về. Tôi muốn gia đình đoàn tụ hơn bất cứ điều gì khác!”

 

Mấy ngày sau, khi đi North Carolina về, tôi thấy anh thực sự kinh nghiệm sự cứu rỗi. Anh nghiêm túc với Đức Chúa Trời. Anh đã bỏ uống rượu. Gia đình Cơ-đốc đầm ấm của họ tiếp tục minh chứng rằng việc lỡ chuyến tàu buổi sáng tháng tám năm 1945 hôm ấy cũng đáng – dù rằng tôi thật đã ương ngạnh trong chuyện đó. Đúng là thời điểm của Đức Chúa Trời, và tôi suýt chận đứng đồng hồ của Ngài!

 

Sau khi rời nhà họ, tôi lái xe trở lại bưu điện. Lần này có thư trong hộp thư của tôi, và một trong những thư này là của Betty Jane Seawell, cô gái có tên trên nắp phong bì! Đó là một thư ngắn không sốt sắng lắm, với nội dung: “Ba mẹ tôi sẽ vui đón tiếp anh . . .”

 

Vì thế tôi lái xe đến Carthage. Từ lúc tôi dừng xe tại ngôi nhà và thấy Betty Jane ra đón mình, tôi biết Gene Evans đã nói đúng. Có thể nói là nếu không nhận được thư cô ấy sáng hôm đó, chắc hẳn tôi sẽ không tìm cách liên lạc lại.

 

Đó là ngày Đồng minh chiến thắng Nhật bản và toàn thế giới đều vui mừng về sự kết thúc Thế Chiến II. Chúng tôi nghe tin báo cả nước sẽ có hai ngày nghỉ. Ông Seawell chắc chắn biến cố quan trọng này sẽ thay đổi kế hoạch của hội đồng, cho nên đã khăng khăng bảo tôi dùng điện thoại của ông để kiểm tra trước khi ra đi. Ông nói đúng. Toàn bộ hội đồng được đình hoãn, cho nên tôi quyết định trở về nam.

 

Ba của Betty Jane chận tôi lại: “Ồ, không đâu! Cậu đã lái xe quá xa tới đây. Tốt hơn cậu nên ở chơi mấy ngày lễ với chúng tôi trước khi quay về.”

 

Tôi cảm nhận ngay đây là những tín đồ làm chứng mạnh mẽ cho Chúa Giê-xu Christ. Ông Seawell là một luật gia Cơ-đốc xuất sắc có ơn hiểu biết Kinh Thánh sâu nhiệm cũng như tính dí dỏm lạ thường trong nói năng lẫn viết lách mà ông vẫn thường dùng đến để hầu việc Chúa. Bà Seawell đã về với Chúa hôm 5 tháng mười 1965, là một giáo viên dạy Kinh Thánh được ơn không hề bỏ qua việc làm chứng và đứng về phía Chúa Giê-xu Christ. Mọi người thường nói: “Khi Jane Seawell trò chuyện với bạn thì chắc chắn là bà sẽ nói về Chúa và Cứu Chúa của bà là Giê-xu Christ.” Ngày nay tại Carthage, North Carolina, Nhà Nguyện Phúc âm là đài kỷ niệm cuộc đời chứng nhân trung thành và không mệt mỏi của Chub và Jane Seawell – mà đối với tôi như là ba mẹ ruột của mình.

 

Lúc tôi ở lại Carthage tôi không cho là gia đình Seawell biết gì về tầm quan trọng của thời gian đó đối với Betty Jane và tôi sau này. Nhưng khi chúng tôi kết hôn, chỉ bảy tuần sau đó, thì mọi người đều thấy rõ ràng rằng không phải chỉ từng ngày, mà là từng giờ, đều ở dưới sự tể trị của Đức Chúa Trời để thực hiện kế hoạch của Ngài dành cho Betty Jane và tôi.

 

Chúng tôi vẫn còn ngạc nhiên về cách Đức Chúa Trời đã giữ chúng tôi cho nhau. Ngài đã đưa chúng tôi vào kinh nghiệm tin chắc thật sống động – khiến cho tình yêu giữa chúng tôi rất thật, sâu đậm, chân thành và vị tha. Thật Ngài đã kiên nhẫn gìn giữ cô ấy cho tới khi tôi sẵn sàng chịu lắng nghe.

 

Trong ánh mắt màu nâu long lanh của mình, Betty Jane nói với mọi người: “Tôi cho rằng Đức Chúa Trời đã dành sẵn người này cho tôi. Tôi muốn mọi người trẻ khác cũng có được kinh nghiệm tin chắc như vậy. Tôi thực sự tin là họ phải biết chắc Đức Chúa Trời đã lựa chọn chính xác người bạn đời cho họ, và họ sẽ chuốc lấy rắc rắc cho đời mình nếu đi trước ý Chúa và kết hôn trước thời điểm của Ngài. Và nếu không có ai trong chương trình của Ngài, thì tốt hơn là không nên kết hôn.”

 

Betty Jane lúc nào cũng cẩn trọng chia xẻ câu chuyện của chúng tôi thật chính xác với giới trẻ, vì cả hai chúng tôi đều cảm thấy thường phải cần một khoảng thời gian tìm hiểu tương đối dài để đặt nền tảng vững chắc cho hôn nhân. Trường hợp của chúng tôi không phải là khuôn mẫu để bắt chước cách hời hợt. Trong trường hợp chúng tôi, thực sự chẳng có lý do để chờ đợi. Cả hai chúng tôi đều đã học xong. Tôi đã để dành được đủ tiền. Cả hai chúng tôi đều biết chắc Đức Chúa Trời đã đưa chúng tôi lại với nhau và hôn nhân của chúng tôi là kế hoạch của Ngài.

 

   Kỳ sau:     Chương VI: Tìm kiếm một duyên cớ

   Nếu các bạn muốn đọc những chương trước, xin liên hệ vuian@hotmail.com. Thân ái.

 

 


Họ và tên (*) Email (*)
Hiển thị email
Nội dung
 

Tháp Vĩnh Cửu: Chương XIII - Nước Đức đi đầu Các nhân viên giỏi giang của phòng soạn chương trình tại...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương XII - Sẳn sàng đến Monte Carlo Trong năm xây dựng và chuẩn bị tại Monte Carlo, vợ chồng...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương XI - Phép lạ tại MONACO tôi tự hỏi tại sao chúng ta lại thấy khó tin mỗi khi một...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương X - Những thách thức mới Tiếp theo là giọng ba tôi: “Paul à, Đức Chúa Trời đã làm...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương IX - Được thăng tiến
Tháp Vĩnh Cửu: Chương VIII - Đài tiếng nói Tangier Tôi thường thấy rằng Đức Chúa Trời sẽ đưa người tín đồ hầu...
   Đăng nhập | Đăng ký