Tháp Vĩnh Cửu: Chương VI - Tìm kiếm một duyên cớ

Trong những ngày đầu của phong trào Youth For Christ (viết tắt YFC, tạm dịch Tuổi Trẻ Vì Đấng Christ) tôi đã bỏ chức vụ mục sư để làm giám đốc YFC tại Greensboro, North Carolina. Torrey Johnson, người đã nghĩ ra khái niệm tập họp mới mẻ này dành cho học sinh trung học, là mẫu người đúng y chang với hình dung của tôi về một lãnh đạo biết nhìn thấy rõ nhu cầu của người khác, rồi khôn ngoan tìm kiếm một kế hoạch hành động thích hợp để đáp ứng nhu cầu đó.

 

Chính Torrey Johnson là người chỉ dạy tôi cách mường tượng một khái niệm mới và rồi tiến tới trong đức tin để hoàn thành điều dường như là cảm hứng trong một khoảnh khắc được soi sáng. Chính Torrey là người nhìn thẳng vào mắt tôi tại hội đồng Winona Lake, Indiana, và nói: “Paul à, tôi tin rằng Đức Chúa Trời muốn anh đi châu Âu.” Ông thúc giục tôi quyết định tham dự hội đồng Youth For Christ tại Beatenberg, Thụy Sĩ. Về sau tôi biết được là ông đã chuẩn bị vợ tôi trước bằng cách nói với cô ấy: “Tôi nghĩ chị không những phải để cho Paul đi châu Âu, mà chị còn phải hối thúc anh ấy đi nữa kìa.”

 

Thật khó xa Betty Jane vì chúng tôi hầu như thường xuyên ở bên nhau suốt ba năm đầu mới cưới. Tuy nhiên, sự xa cách tỏ ra có ích cho cả hai chúng tôi trong cuộc sống. Trong thời gian nàng ở chung với ba mẹ tôi trong ngôi nhà nhỏ ở Nyack, nàng viết thư cho tôi nói về mẹ tôi như sau:

 

“Em nghe anh nói mẹ có thói quen cầu nguyện hai giờ hai mươi phút mỗi ngày. Em không thể hiểu được có người lại dâng phần mười thì giờ của mình để cầu nguyện như vậy! . . . Em chưa thấy ai sống toàn vẹn hơn mẹ. Bà lau bụi, tính toán bữa ăn, nấu nướng đều thật khéo. Lúc nào bà cũng gọn gàng và sạch sẽ. Luôn luôn tỏ ra thoải mái, không hề nổi nóng hay bực tức. Bà luôn tỏ ra yêu thương. Đối với em, bà là gương mẫu mà em muốn mình trở thành trong đời sống theo Chúa. Em vẫn ao ước nhìn thấy theo Chúa thực sự phải như thế nào, một người phải thực hành Cơ-đốc giáo ra làm sao. Anh yêu dấu, anh đã cho em có cơ hội! Mẹ chính là mẫu mực của một người tín đồ. Giống hệt như là được ‘bôi dầu’ – cuộc sống của mẹ diễn ra thật trơn tru. Em nghĩ đó là ‘dầu Thánh Linh.’

 

“Khao khát của bà là được giống Đấng Christ. Vấn đề không phải là số lượng thì giờ bà dành ra – tuy bà cũng có ghi lại kỹ càng trong sổ nhỏ về thì giờ cầu nguyện của mình. Nhưng em chưa hề có cảm giác là bà cố tạo ra như vậy. Bà là người rất có kỷ luật, nhưng không phải với nghĩa khắt khe. Bà chỉ học biết rằng khi mình hành động theo qui luật của Đức Chúa Trời thì đời sống sẽ diễn ra trơn tru – giống như một chiếc máy được tinh chỉnh. Em nhớ anh kinh khủng, anh yêu dấu, nhưng em cám ơn anh cho em có thời gian này để học tập. Thật tốt được ở đây với ba mẹ Freed.”

 

Có lẽ Torrey không hiểu rằng khi giục tôi đi châu Âu tức, trên một phương diện, anh đang giúp Đức Chúa Trời đẩy tôi ra khỏi tổ chức mới thành lập nhưng được ưa chuộng của anh dành cho giới trẻ Hoa kỳ. Tôi cũng chẳng có ý muốn bỏ anh. Thế nhưng, khi từ Thụy sĩ và Tây Ban Nha về, tôi có một hiểu biết bao quát hơn về một thế giới không có hi vọng.

 

Trong những cuộc tập họp của tổ chức Youth For Christ, tôi cố gắng chia xẻ gánh nặng nhức nhối mà mình cảm nhận được, cùng với khải tượng vẫn còn tươi mới của tôi về Tây Ban Nha. Tôi nói nhiều về Tây Ban Nha, về những đám đông đang đói khát. Nhưng ban lãnh đạo địa phương chỉ nhắm đến những mục tiêu địa phương, nên chẳng bao lâu chúng tôi biết chắc rằng Chúa đang đẩy chúng tôi ra khỏi hoàn cảnh địa phương qua khải tượng mở rộng mà Ngài đã ban cho tôi tại châu Âu. Cảm giác còn lu mờ nhưng dai dẳng. Đó là một kinh nghiệm gây khó xử. Phát thanh vẫn chiếm chỗ tối hậu khi tôi suy nghĩ cách đáp ứng cho hàng triệu người Tây Ban Nha.

 

Khả năng phát thanh cho đất nước Tây Ban Nha có vẻ như đủ thực tế. Nhu cầu có vẻ cấp thiết, nhưng chúng tôi làm gì được nếu không có nhân sự, không có tiền? Những nỗ lực của chúng tôi tại Hoa Kỳ nhằm khơi dậy sự đáp ứng dường như bế tắc bất cứ nơi nào tôi cố gắng chia xẻ khải tượng. Áp lực gia tăng trong tôi khi tôi ước lượng khả năng phát thanh cho 30 triệu người trước vẻ thờ ơ của những tín đồ tại Mỹ Quốc.

 

“Lạy Cha, chúng con phải làm sao đây? Con không thể bỏ cuộc! Nhưng con không biết phải làm gì!”

 

Nhận biết mình không còn có thể thỏa mãn khi làm việc trong giới hạn một thành phố, tôi rút khỏi chức vụ tại tổ chức Youth For Christ, và thông báo mình sẵn sàng làm nhà truyền giảng Phúc âm. Đó là một bước nhỏ hướng đến mục tiêu tối hậu, nhưng từ góc độ cá nhân thì sự thay đổi này rất quan trọng.

 

Vào lúc này Chúa cho chúng tôi cháu đầu tiên trong năm người con, đó là Paul David, sinh ngày 26 tháng mười 1949. Điều này mang lại niềm vui cùng hạnh phúc lớn cho gia đình chúng tôi. Nhưng chúng tôi không còn có thể sống nhờ vào đồng lương hàng tháng nữa. Chúng tôi được thúc giục sống bằng đức tin thay vì bằng mắt thấy. Kể từ nay thực phẩm cùng tiền thuê nhà đến trực tiếp từ Chúa thay vì từ văn phòng YFC. Đây là thời gian thử thách.

 

Sau những cố gắng đầu tiên của tôi nhằm yêu cầu sự trợ giúp cho các mục sư ở Tây Ban Nha, tôi đi đến một kết luận mới. Tôi bắt đầu tin rằng điều tối quan trọng đối với chúng tôi là đi theo hướng Đức Chúa Trời đã bày tỏ, nhưng riêng cá nhân mình cũng phải chăm chỉ làm việc, dành riêng số tiền mình có thể kiếm được cho chức vụ còn đâu đó trong tương lai chưa rõ ràng.

 

Chúng tôi bắt đầu bằng cách thiết kế và đóng những căn nhà lưu động tại Scranton, bang Pennsylvania. Sau đó, tại vùng Greensboro, chúng tôi bắt đầu xây nhà, một số có giá từ tám tới mười ngàn đô-la, những nhà khác thì tôi thiết kế theo ý người mua để bán khoảng ba mươi ngàn đô-la. Mỗi chút lợi tức có thể rút ra được là chúng tôi đưa vào một quỹ dành cho “công việc.” Dần dần tình hình được cải thiện. Khi “công việc” trở nên rõ ràng hơn, chúng tôi cắt bớt những hợp đồng xây cất, cho tới cuối cùng chúng tôi cảm thấy đã đến lúc thích hợp để chấm dứt nghề xây cất.

 

Đến 1951, chúng tôi thấy cần phải tìm hiểu thêm về châu Âu. Lần này Betty cùng đi với tôi sang Tây Ban Nha. Ba tôi cảm thấy việc nàng đi theo là hợp lý. Mọi người khác trong gia đình đều thấy nhu cầu của người ta, nhưng đối với Betty Jane thì truyền giáo vẫn luôn luôn là thứ yếu. Toàn bộ số tiền đều là quà tặng từ bạn hữu Cơ-đốc.

 

Nàng vẫn thường nói: “Chuyến đi ấy thực sự có lợi anh à. Em chưa hề thấy bất cứ điều gì giống như vậy trong đời mình, và nó khiến em sẵn sàng chấp nhận những hi sinh cần thiết.”

 

Russ Reid cũng tháp tùng chúng tôi. Chúng tôi rất thích mối thông công cùng chức vụ của anh ấy, cả bằng âm nhạc lẫn lời nói.

 

Lần này, khi đề cập đến tiềm năng phát thanh, một thông dịch viên Tây Ban Nha nói: “Các ông phải đi qua Tangier, đó là nơi tốt nhất để phát thanh.”

 

Tôi không muốn đi Tangier chút nào. Tôi thấy mình ngần ngại trước lời đề nghị này giống như tôi đã ngần ngại khi Đức Chúa Trời sai tôi đến Tây Ban Nha lần đầu tiên. Dường như đó là sự phí phạm. Cả cuộc đời của tôi đã được đầu tư tại Trung Đông giữa người Ả rập. Tại sao Đức Chúa Trời lại chọn cho tôi một dân tộc hoàn toàn xa lạ trong một xứ hoàn toàn xa lạ như thế này?

 

Nhưng tất cả việc Ngài phải làm là đưa tôi tới Tây Ban Nha – để thả tôi xuống những hang động tăm tối cùng những đường phố đông đúc. Trước khi nhận ra được chuyện gì đang xảy ra thì mắt tôi đã ướt đẫm lệ. Tôi hiểu trong một thời gian rất ngắn rằng nhu cầu của người Tây Ban Nha không có Đấng Christ cũng thực hữu như của người Ả rập mà cuộc sống không có Đấng Christ của họ đã từng luôn là gánh nặng trong lòng tôi.

 

Bây giờ chính lời đề nghị đi Tangier hiện ra như mối đe dọa cho chức vụ mà đã lôi kéo tôi mạnh mẽ đến với dân tộc Tây Ban Nha. Tôi đã giảng trong nhà thờ cùng nhà riêng của họ. Họ là dân tộc tôi. Tôi được sưởi ấm bởi tình yêu của họ. Tôi ưa thích đáp ứng cùng sự tán thưởng nồng nhiệt của họ. Tại sao Đức Chúa Trời không thể mở ra những phương tiện phát thanh ngay tại đây, trên đất Tây Ban Nha này? Tại sao Ngài muốn dời chúng tôi sang châu Phi? Tôi cảm thấy mình gần giống như quân cờ bị di chuyển trên bàn cờ bởi một kỳ thủ bậc thầy cự phách. Và tôi không thể hiểu nước đi đặc biệt này – đưa tôi ra khỏi Tây Ban Nha – cũng y như trước đây tôi không hiểu nước đi đã đưa tôi đến Tây Ban Nha.

 

Một Cơ-đốc nhân Tây Ban Nha cao niên và khôn ngoan, Samuel Vila, đã cho tôi biết có hai người cầu nguyện cho chức vụ phát thanh cho Tây Ban Nha. Họ là Peter Harayda và Ruben Lores. Và ông cho tôi biết là họ sống ở Tangier thuộc Bắc Phi!

Thế là một sáng nọ chúng tôi đi xe buýt từ Seville tới Algeciras, một tỉnh nhỏ Tây Ban Nha nơi có phà băng ngang eo biển tới Tangier. Khi tới duyên hải Bắc Phi, chúng tôi tìm nhà của Harayda cũng như Lores, rồi bắt đầu cùng trao đổi về giấc mơ chung về một đài phát thanh truyền giáo cho người Tây Ban Nha – hàng trăm ngàn người mà chúng tôi không thể nào nói chuyện với họ bằng cách nào khác.

 

Hoàng hôn đêm hôm đó, từ dãy núi nhìn xuống eo biển Gibraltar, chúng tôi có thể nhìn thấy Tây Ban Nha. Chúng tôi đang cắm trại bên ngoài Tangier, trên khu đất xinh đẹp của một ngôi trường truyền giáo ngày trước. Chúng tôi đau buồn nghĩ đến lòng tận hiến cùng những giấc mơ – của người nào đó mà chúng tôi không biết – đã xây dựng nên nơi này, để rồi giờ đây bỏ trống, tan hoang, với tơ nhện giăng đầy. Chúng tôi thấy dường như chúng tôi có thể cứu vãn nó, mang lại sức sống mới cho nó và biến nó thành đài phát thanh trong khải tượng của chúng tôi.

 

Tangier là một thành phố quốc tế, chỉ ngăn cách với Tây Ban Nha bởi một eo biển rộng hai mươi sáu dặm. Khi đứng trên đất Ma-rốc nhìn xuống Tây Ban Nha, chúng tôi ý thức rằng ở đây mình được tự do xây dựng, trong khi có thể không hề có cơ hội như vậy tại Tây Ban Nha. Giữa một rừng thông ngát hương, sáu người chúng tôi qùi xuống cầu xin Đức Chúa Trời ban cho chúng tôi ước vọng của lòng mình – sử dụng chúng tôi làm chiếc cầu nối ngang qua eo biển này với những tín hiệu rõ ràng của tin mừng về Chúa Cứu Thế Giê-xu cho dân tộc Tây Ban Nha.

 

Ngày hôm sau chúng tôi viếng thăm vị giáo sĩ tám mươi tuổi, một người Anh cao niên tin kính mà chúng tôi được biết là chủ của khu đất nơi chúng tôi đã cầu nguyện. Ông Elson đã bỏ hết những năm tháng đời mình tận tụy với những người dân ở đây. Bây giờ, với thời gian ít ỏi còn lại, và ngôi nhà nhỏ làm trụ sở, ông nắm bắt được khải tượng của chúng tôi và thấu hiểu khát vọng mãnh liệt trong lòng chúng tôi muốn mang Phúc âm đến cho mọi người.

 

Trong khi ngồi nói chuyện với ông, chúng tôi nhớ lại lời Torrey Johnson khuyên chúng tôi trước đây: “Cứ hỏi xin những điều lớn lao dầu đa số khước từ.”

 

Tôi quyết định đây là cơ hội để làm theo lời khuyên đó. Tôi mời ông Elton cùng cầu nguyện với tôi về khả năng dâng miếng đất truyền giáo trước đây cho công việc phát thanh Phúc âm.

 

Khi chúng tôi đứng lên, cụ già lịch sự nói: “Anh bạn trẻ ơi, nếu anh có thể dâng đời mình đi truyền giáo thì điều nhỏ nhất tôi có thể làm là dâng miếng đất của tôi.”

 

Tuy nhiên, ông giải thích ông không thể tự quyết định một mình được bởi lẽ ông đã hứa cho vài người bà con. Sau khi hỏi ý kiến, họ quyết định giá mười lăm ngàn đô-la, chỉ là một số tiền nhỏ so với giá trị mà chúng tôi ước lượng về tài sản truyền giáo đó.

 

Ngay sau cuộc gặp gỡ này, chúng tôi trở về theo đường Bồ đào Nha. Tâm trí chúng tôi chìm ngập trong lời cầu nguyện liên tục, xin Chúa dùng miệng lưỡi chúng tôi, những ảnh mà chúng tôi có cùng với lòng tận hiến của chúng tôi đối với nhu cầu này để đánh thức các tín đồ tại Hoa Kỳ cộng tác với chúng tôi. Bây giờ chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa rằng phát thanh Phúc âm là sự nghiệp của chúng tôi, và Tangier chính là địa điểm.

 

Trở về Hoa Kỳ, trong khi tìm cách truyền đạt cho các Hội thánh gánh nặng cầu nguyện cho tiếng nói phát thanh Cơ-đốc đến với châu Âu, chúng tôi quyết định rằng phim ảnh sẽ giúp ích cho việc kể chuyện.  Lúc đang ở Tây Ban Nha, tôi có quay được vài cảnh phim rất hay. Những cảnh này tạo nền tảng cho cuốn phim hấp dẫn đầy màu sắc, lý lẽ, mang tên Banderilla (cái lao ngắn, dùng trong đấu bò rừng – ND) tường thuật rất cảm động cho các Cơ-đốc nhân tại Bắc Mỹ nỗi khó khăn của tín hữu tại Tây Ban Nha. Ben Armstrong, mục sư của Hội thánh Cộng đồng tại Ringwood, bang New Jersey, cùng vợ là Ruth (em gái tôi), quan tâm sâu sắc đến gánh nặng cùng khải tượng về Tây Ban Nha của tôi và giúp ích rất nhiều trong việc trình chiếu cuốn phim Banderilla tại nhiều Hội thánh khắp nước Mỹ và Ca-na-da.

 

Không có hỗ trợ cụ thể nào, vợ chồng chúng tôi cùng với hai con nhỏ – Paul David ba tuổi và Donna Jean mới tám tháng – bắt đầu một chuyến đi được ủy nhiệm dài 11.000 dặm. Suốt hai tháng rưỡi, mỗi tối tôi đều đến nói chuyện và chiếu phim tại một nhà thờ hoặc hội trường khác nhau. Thời khóa biểu thật căng thẳng nhưng cho thấy chúng tôi bắt đầu nhận được sự cầu thay và hỗ trợ dành cho Tây Ban Nha. Chúng tôi trở về nhà vào đêm Giáng sinh.

 

Cuốn phim Banderilla chứng tỏ vô cùng hiệu quả trong việc khơi dậy mối quan tâm giúp đỡ các mục sư Tây Ban Nha vốn hầu như có không đủ sống – mặc dầu chưa xem xét gì đến phương cách giúp họ chia xẻ Phúc âm cho dân chúng. Chúng tôi có gửi một số quà, nhưng tôi vẫn biết đây chưa phải là câu trả lời đầy đủ của Đức Chúa Trời cho gánh nặng của tôi về hàng triệu người Tây Ban Nha.

 

Khi con gái duy nhất của chúng tôi, Donna Jean, chào đời, chúng tôi không biết làm cách nào để đưa cháu ra khỏi bịnh viện. Lời gỡ truyền tới tai chúng tôi: “Anh chị không thể đưa bé về nếu chưa trả viện phí.” Chúng tôi nghĩ có lẽ một bạn thân hoặc người bà con nào đó sẽ là lời giải đáp. Nhưng đây chính là bài học quan trọng: chúng tôi bắt đầu học biết rằng sự tiếp trợ ít khi đến từ những nguồn chúng ta mong đợi – nhưng đến vào lúc và từ nơi Đức Chúa Trời muốn. Lần này cũng không phải là ngoại lệ. Đức Chúa Trời đã cung ứng.

 

Cùng ngày mà Donna chào đời – 11 tháng hai 1952 – Đài Phát thanh Xuyên Thế giới chính thức bắt đầu, được thành lập với tên gọi đài “Truyền bá Phúc âm Quốc tế.” Ngay từ đầu, trong khi chúng tôi nỗ lực giải quyết gánh nặng Tây Ban Nha, thì chỉ trích đã vây lấy chúng tôi. Chủ yếu là do chúng tôi chưa thể xác định rõ mục tiêu của mình. Chúng tôi đã tin rằng cần phải làm một việc mà chưa ai làm, nhưng chúng tôi không biết rõ phải đi theo hướng nào. Ý nghĩ phát thanh không bao giờ rời khỏi chúng tôi, nhưng tận nơi sâu thẳm trong tâm trí mình, chúng tôi tiếp tục thắc mắc không biết Đức Chúa Trời sẽ mở lối ra sao.

 

Đối với cả hai chúng tôi, đây là phiêu lưu, đòi hỏi nhiều tháng học tập và tăng trưởng. Nhiều lúc chúng tôi bị cám dỗ bỏ cuộc. Thật là một cuộc tranh chiến. Suốt một thời gian, mỗi một ngày hầu như quá sức chịu đựng của chúng tôi. Có những lúc dường như tôi làm việc quần quật – cứ bắt mình ra đi, kể chuyện, chiếu phim, nài xin Chúa đặt gánh nặng vào lòng những người khác.

 

Cần phải có can đảm và tin tưởng mới bước được vào những vùng xa lạ. Nhưng thường thì, ngay tại điểm chúng ta cảm thấy mình mạnh mẽ và tin chắn, thì chúng ta lại bị hăm dọa bởi hàng loại chỉ trích tới tấp.

 

“Anh đang cổ động tiền bạc cho một đài phát thanh mà thậm chí chưa hiện hữu.”

 

“Anh chưa có ban giám đốc quan trọng đủ.”

 

“Anh chưa rõ phương hướng mình đang đi.”

 

“Anh phải gia nhập một nhóm giáo sĩ đang hoạt động .”

 

“Đã có khối đài phát thanh đang hoạt động. Sao lại mở thêm làm gì?”

 

Cả đời, tôi vẫn muốn đáp trả. Hẳn là một cuộc tranh chiến từng hồi từng lúc. Nhưng dần dần tôi học biết rằng đáp trả hao tốn sức lực và thời gian. Nó có thể giết chết sự sống của một giấc mơ. Chúng tôi bắt đầu khám phá ra rằng Chúa có thể khiến lòng chúng ta tràn đầy tình yêu đối với những tín đồ khác ngay cả khi họ trực tiếp dựng lên hết chướng ngại này tới chướng ngại khác trên đường tiến của chúng ta. Khi chỉ trích đe dọa bước tiến của chúng tôi, thì Betty Jane và tôi đã học biết giúp nhau cầu xin Chúa hướng dẫn và sử dụng người chỉ trích trong công tác đặc biệt Đức Chúa Trời dành cho họ. Là Cơ đốc nhân, chúng ta cần phải cầu thay cho nhau với tấm lòng yêu thương – thay vì với thái độ chỉ trích!

 

Chúng tôi tin chắc khải tượng của chúng tôi bắt rễ trong Đấng Christ. Và chúng tôi sẽ không thối lui. Cứ mỗi khi nản lòng thì chúng tôi lại được tái bảo đảm rằng đây chính là công tác đặc biệt của chúng tôi. Và chúng tôi không cô độc trong công tác đó.

 

Kỳ tới:   Chương 7:   Trở lại khu rừng thông

 

Nếu các bạn muốn đọc những chương trước, xin liên hệ vuian@hotmail.com. Thân ái.

 

 

 


Họ và tên (*) Email (*)
Hiển thị email
Nội dung
 

Tháp Vĩnh Cửu: Chương XIII - Nước Đức đi đầu Các nhân viên giỏi giang của phòng soạn chương trình tại...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương XII - Sẳn sàng đến Monte Carlo Trong năm xây dựng và chuẩn bị tại Monte Carlo, vợ chồng...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương XI - Phép lạ tại MONACO tôi tự hỏi tại sao chúng ta lại thấy khó tin mỗi khi một...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương X - Những thách thức mới Tiếp theo là giọng ba tôi: “Paul à, Đức Chúa Trời đã làm...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương IX - Được thăng tiến
Tháp Vĩnh Cửu: Chương VIII - Đài tiếng nói Tangier Tôi thường thấy rằng Đức Chúa Trời sẽ đưa người tín đồ hầu...
   Đăng nhập | Đăng ký