Tháp vĩnh cửu: Chương VII - Trở lại khu rừng thông

 

Tôi thường nhận thấy: “Điều quan trọng không phải là chúng ta đã bỏ ra bao nhiêu cho chính nghĩa của Đấng Christ, mà là chúng ta còn giữ lại bao nhiêu.” Dường như trong khi chúng tôi đang xoay xở sắp xếp cho năm 1953 thì Đức Chúa Trời bảo tôi phải thử lại những lời mà tôi vẫn thường nói thật dễ dàng.

 

Đã đến ngày mà tôi thấy cần phải trở lại Tangier để đặt nền móng cho đài phát thanh. Chúng tôi chẳng có sẵn chi phí cho chuyến đi. Vì vậy, chúng tôi bán nhà và xe, và tôi dùng số tiền để tìm hiểu thêm về tiềm năng phát thanh tại Ma-rốc. Vợ tôi cùng các con – Paul David gần bốn tuổi, Donna Jean gần hai tuổi, cùng cháu bé mới sinh James Philip – dọn đến ở tại một căn hộ nhỏ.

 

Chuyến đi từ Mỹ của tôi lần này trực tiếp đưa tôi đến Tangier. Tôi biết phải mất thời gian để có được giấy phép cần thiết của chính phủ hầu có thể khởi công xây dựng đài phát thanh. Tôi đã sẵn sàng để cho lòng kiên nhẫn của mình chịu thử thách, bởi lẽ bánh xe nhà nước ở bất cứ xứ nào cũng quay thật chậm.

 

Lúc đến thành phố cảng Tangier, tôi bắt đầu thủ tục thường lệ mà tôi tin là cuối cùng sẽ cho tôi các giấy phép cần thiết để lắp đặt máy phát sóng và tháp ăng-ten. Những cuộc thương lượng đều êm xuôi và tôi rất phấn khởi. Rồi một chuyện kỳ lạ xảy ra.

 

Một buổi sáng, trong khi tôi đang đi qua các đường phố ồn ào của Tangier thì một người Mỹ chận tôi lại.

 

“Chào ông Freed. Tên tôi là Southworth. Tôi biết ông đang tìm cách xây một đài phát thanh.”

 

Tôi nhận ra ông là người đã có được giấy phép phát thanh và có đài riêng tại thành phố quốc tế Tangier này. Tôi tự hỏi không biết ông ta có ý đồ gì.

 

Ông ta nói tiếp: “Tôi xin có một đề nghị đơn giản. Tôi đề nghị ông xây dựng đài của ông bằng giấy phép của tôi.”

 

Phản ứng đầu tiên của tôi là từ chối: “Không , tôi không nghĩ tới chuyện đó.”

 

“Ông có thể tiết kiệm được thời gian một năm hoặc hơn thế.”

 

“Cám ơn ông rất nhiều về lời đề nghị, ông Southworth ạ, nhưng thực sự là chúng tôi đang rất thuận lợi.”

 

“Có thể ông cũng tiết kiệm được tiền bạc nữa.”

 

Có lẽ là do tự kiêu mà tôi phản đối một người ngoại cuộc muốn xen vào giấc mơ của tôi. Tôi nuôi khát vọng lớn là tự mình xây dựng giấc mơ của mình – thành một đài phát thanh mạnh và hiệu quả. Tôi không thích ai đó đoạt nó khỏi tay tôi. Đó là việc của tôi, và trong khi đứng đó nhìn người Mỹ thân thiện này, dưới bóng của một ngôi đền Hồi giáo, tôi cảm thấy mọi sự chuẩn bị đều phải là do mình thực hiện.

 

Đêm đó tôi không ngủ được. Chỉ có một mình trong phòng, tôi đọc Kinh Thánh và cầu nguyện một hồi lâu.

 

“Lạy Chúa, Ngài muốn phán gì với con?”

 

Tôi rảo quanh phòng, cầm lên một tạp chí, vài tờ báo, một tấm ảnh của vợ tôi và các con. Tôi muốn biết tại sao người Mỹ này đã được sai tới gặp tôi. Tôi phải nghĩ cho ra tại sao mình không sốt sắng nhận sự giúp đỡ của ông, để đài phát thanh có thể hoạt động ngay tức khắc.

 

Cuối cùng, động cơ cùng tham vọng của tôi muốn chứng tỏ khả năng mình đã hiện ra thật rõ nét, và tôi biết mình đang tìm cách tự điều hành dự án Tangier một mình. Tôi sẽ thấy thỏa mãn khi nghĩ thắng trận này là do sức riêng, hơn là chấp nhận lời đề nghị của một người được Đức Chúa Trời chọn để cùng chia xẻ trong việc xây dựng đài phát thanh của Ngài.

 

Vào sáng hôm sau, tôi đã sẵn sàng để chấp nhận đề nghị của Southworth như là câu trả lời chính xác của Đức Chúa Trời cho chúng tôi. Tôi điện thoại cho ông rằng tôi đồng ý và chúng tôi bắt đầu phác họa chi tiết của khâu dàn xếp. Thật là một giải pháp kỳ diệu. Ông ta sẽ xây thiết bị phát thanh và cột ăng-ten cho chúng tôi, sau đó giao trọn gói lại cho chúng tôi. Ông đã có giấy phép, có đất, cùng đội kỹ sư. Như vậy sẽ giảm nhẹ kinh phí  cho chúng tôi rất nhiều – chỉ thanh toán các chi phí trong một thời gian.

 

Ngày hôm ấy mở ra cho tôi đủ mọi khả năng. Tôi thấy được mình sẽ dại dột biết bao nếu cố gắng làm mọi việc một mình. Tôi nghĩ khi đi vào mọi chi tiết kỹ thuật tỉ mỉ như thế này, thì chẳng ai biết hết được lời giải cho mọi thứ. Điều tối quan trọng tôi có thể thấy được lúc đó là phải tìm ra những chuyên viên kỹ thuật có tài năng để làm những công việc kỹ thuật phức tạp. Những người tôi có thể tin cậy được. Những người không chỉ rành về chuyên môn, mà còn biết áp dụng hiểu biết của mình trong một bối cảnh tiên phong nữa.

 

Tôi chưa hề là con người say mê phát thanh. Tôi biết nhiều về cả trăm thứ khác hơn là về phát thanh. Và điều có vẻ hơi lạ là, với quá nhiều tay phát thanh nghiệp dư trên thế giới như thế, mà Chúa lại chỉ định tôi thực hiện chương trình phát thanh đầy phiêu lưu này cho châu Âu.

 

Trí và lòng tôi bị thu hút bởi tiềm năng của những làn sóng trên không trung. Dường như sóng vô tuyến có thể vượt qua mọi biên giới, mọi bức tường, đâm xuyên ‘những bức màn,’ hiệu quả hơn bất cứ thứ nào khác. Tôi nghĩ đến những đoàn dân đông của thế giới như chỉ “một thế giới duy nhất” với cùng những nhu cầu cơ bản trong lòng. Tôi biết mỗi cá nhân đều có quyền được nghe Phúc âm. Tôi tin chắc theo quan điểm của Đức Chúa Trời, mọi người đều được Ngài yêu quý, rằng đối với Ngài không hề có rào cản, không có sự phân biệt. Vấn đề lộ ra thật rõ ràng. Mục tiêu của chúng ta, những tín hữu hình thành nên Hội thánh của Chúa Cứu Thế Giê-xu, là phải đến với mọi người khắp mọi nơi, không có ngoại lệ. Đến với họ qua làn sóng phát thanh cũng không phải chỉ là một lý thuyết, vì chúng tôi biết rằng lục địa Âu châu là nơi có số lượng máy thu thanh lớn nhất dành cho dân chúng so với bất cứ nơi nào khác trên thế giới, chỉ trừ nước Mỹ.

 

Đây chính là sức mạnh có thể vượt núi đồi, xuống các thung lũng, qua các thôn làng, các cánh rừng ô liu và các vườn nho. Đây chính là sức mạnh có thể len lỏi vào trí và lòng của những chủ tiệm, những tay đấu bò, những phu bến tàu, những người bán dạo, những công nhân, những nhà nông. Đây chính là tín hiệu có thể thâm nhập những lâu đài sang trọng của giới quý tộc cũng như những nhà vách đất của nông dân, và mang lại sự sống cho mọi người chịu tiếp nhận.

 

Lòng tôi bừng cháy khát vọng nói cho mọi con người đó biết rằng Chúa Giê-xu Christ yêu thương họ, rằng Ngài đã chết cho họ, rằng Ngài đã sống lại và hiện đang sống ngày nay. Tất cả việc họ phải làm là chỉ tin mà thôi. NHƯNG, trước hết, họ phải được nghe đã.

 

Trong khi tìm cách gieo ý tưởng này tại nước Mỹ, thì người ta thường cảnh báo tôi: “Bản thân anh phải biết rõ máy phát thanh từ A đến Z trước đi rồi mới bước vào công việc đó được.”

 

Sáng hôm đó, trong khi ông Southworth nói chuyện với tôi, tôi biết những “người an ủi” đó đã lầm. Thiết bị phát sóng cùng phòng thu thanh và cột ăng-ten đều tuyệt đối thiết yếu, nhưng Đức Chúa Trời đã có những con người sẵn sàng đảm nhận những lãnh vực đó nếu chúng ta chịu lắng nghe Ngài. Những thiết bị này phải được xây dựng theo cách tốt nhất có thể được. Chỉ những ai được đặc biệt đào tạo mới làm được công việc này. Nhưng tôi cũng biết việc chuẩn bị trước những điều sẽ nói với thính giả cũng quan trọng không kém, sau khi mọi việc xây cất được hoàn tất và chúng tôi phóng công tắc để truyền sứ điệp Sự sống Vĩnh cửu qua eo biển vào Âu châu.

 

Có nhiều vấn đề phải đối diện. Ngay từ đầu, Chúa đã in sâu trong trí tôi tầm quan trọng của việc tìm ra một người có kinh nghiệm thực sự trong việc lãnh đạo ban điều hành. Khi suy nghĩ đến mọi khả năng, bỗng nhiên trong trí tôi lóe lên ý nghĩ rằng người tốt nhất mà tôi có thể nhờ quản lý công việc tại Tangier chính là ba tôi. Lúc ấy ông đang dạy tại trường Kinh thánh Western Canadian Bible Institute ở Regina, Saskatchewan.

 

Khi trở về Mỹ, tôi gọi điện thoại cho ông thảo luận nhu cầu phải tìm người thích hợp nhất để điều hành đài phát thanh trước khi chúng tôi có thể xúc tiến công việc tại Tangier. Tôi chắc chắn ông là người thích hợp cho công việc đến nỗi tôi thật bối rối khi ông đáp lại lời mời của tôi: “Tiếc quá, Paul à, mới chỉ ba hôm trước, ba đã nhận lời làm viện trưởng cho trường rồi.”

 

Tôi chẳng biết nói sao. Tôi không thể mang lại cho ông bất cứ điều gì mảy may tương đương với sự bảo đảm tài chánh hoặc uy tín giống như trường này. Cho tới nay, dù khởi đầu ở Tangier thật tốt nhưng cũng vẫn là nhỏ. Thực sự, tất cả những gì tôi có thể đem lại cho ông, ấy là sự thách thức về khả năng của một chức vụ rất rộng lớn, cùng hi vọng nó sẽ trở thành quan trọng đối với tất cả mọi người.

 

Ba tôi cũng bối rối như tôi. Ông nói với tôi: “Ba không biết phải làm gì, Paul ạ. Nhưng chúng ta sẽ cầu nguyện về việc này.”

 

Khi gác điện thoại lên, tôi có thể tưởng tượng mẹ tôi đang ngồi trên ghế xích đu với cuốn Kinh Thánh trên đùi. Bà rất ít nói – luôn luôn sẵn sàng thích ứng với những gì tốt cho chồng. “Mình sẽ biết đâu là điều tốt nhất, Ralph ạ.” Tôi hầu như có thể nghe bà nói như thế khi mà ba tôi sẽ thuật lại cuộc đối thoại giữa chúng tôi.

 

Tôi cũng nghĩ đến việc bà quì gối cầu nguyện. Cầu nguyện không phải là việc Mẹ tôi phải làm, mà là việc bà muốn làm. Tôi biết bà sẽ cầm lấy bút chì rồi ghi thêm vấn đề cầu nguyện cho công việc ở Tangier vào danh sách cầu nguyện của bà. Suốt nhiều năm, bà có một cuốn sổ nhỏ – ghi đầy đủ những vấn đề cần cầu nguyện, những mục cụ thể từng ngày. Tôi không biết phải chờ bao lâu bà mới có thể hớn hở chạy đến nói với ba tôi: “Xem này, anh Ralph ơi, bây giờ mình có thể gạch bỏ vấn đề này rồi. Em đã cầu xin suốt hai năm nay, hoặc sáu tháng, hoặc mười lăm ngày. Và bây giờ chúng ta biết Đức Chúa Trời muốn gì rồi. Chúng ta có thể gạch bỏ được rồi.”

 

Qua kinh nghiệm quá khứ tôi biết rằng nếu ba mẹ tin một điều gì đó là đúng hoặc sai, thì cả thế giới cũng không thể thay đổi được lập trường của họ.

 

Bà thường bảo chúng tôi: “Dưới bầu trời tươi sáng này, các con chớ có bao giờ làm trái ý muốn của Chúa.”

 

Chỉ vài hôm sau là chuông điện thoại reo. Lúc tôi nhận ra giọng ba tôi, thế giới như ngừng quay trong giây lát khi tôi nghe: “Paul à, ba không xua điều đó ra khỏi lòng và trí ba được. Ba biết không có ngân quỹ. Nhưng ba mẹ đã cầu nguyện cho việc đó, và ba mẹ đang chuẩn bị đi. Ba mẹ chỉ yêu cầu con là hiệp với ba mẹ cầu xin Đức Chúa Trời cung ứng nhu cầu.”

 

Khi ngồi xuống ghế hướng về tương lai, tôi nghĩ đến những ảnh hưởng của chuyện này đối với hai vị song thân. Tôi không hiểu tại sao mình dám cả gan đề nghị họ khởi sự mọi thứ lại từ đầu. Vì đúng thật như vậy.

 

Lúc ấy ba tôi đã sáu mươi mốt, một giáo sĩ kỳ cựu đã hoàn tất chức vụ tại Trung Đông xa xôi. Đức Chúa Trời đã kêu gọi ông, xức dầu cho ông và sử dụng ông. Bây giờ ông đã trở về Mỹ, với vinh dự được cử làm viện trưởng một trường Kinh Thánh. Dường như điều đó thật hiệp lẽ, một đỉnh cao xứng đáng với cuộc đời vất vả của ông nơi cánh đồng truyền giáo. Nhưng ông quăng hết tất cả, làm lại từ đầu để giúp tôi trong cuộc phiêu lưu mới toanh này.

 

Tôi đang yêu cầu song thân tôi trở lại đúng tại nơi mà nhiều năm trước đây, khi – bước đi trên những vỉa hè ở Nyack, bang New York – họ sống hoàn toàn bằng đức tin. Họ sẽ giống như những ứng viên trẻ vừa mới khởi đầu chức vụ.

 

Sau khi quyết định, ba tôi giải thích: “Paul à, ba mẹ sẽ qua Tangier bắt đầu công việc cho con. Hai ta không còn được hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp tài trợ nữa, con biết đó, và cách thông thường là chúng ta phải đi đến các Hội thánh để tìm tài trợ. Có điều ba không cảm thấy Chúa muốn ba mẹ làm công việc này vào thời điểm này trong đời mình.

 

“Bây giờ thì con biết chắc là mình đã có giám đốc cho đài phát thanh Tangier rồi, con có thể ra đi nói cho các bạn con biết là công việc đã bắt đầu. Sau đó nếu mọi người quan tâm cầu nguyện, và khi đã bắt đầu có tài trợ, thì con có thể gửi cho ba mẹ một ít. Ba mẹ không đòi hỏi mức lương cố định. Ba mẹ chỉ dùng số tối thiểu cho nhu cầu, phần còn lại sẽ dùng cho việc phát thanh.”

 

Vào cuối năm học, họ sắp xếp hành lý rời Regina, Ca-na-đa, để tới Greensboro, North Carolina, cộng tác với chúng tôi lập ra một guồng máy hiệu quả. Tôi nghe ba tôi cười thầm: “Đây là thứ tiêu khiển ưa thích của tôi.”

 

Khoảng nửa năm sau, vào tháng giêng 1954, tôi nhìn họ mỉm cười trên boong của con tàu vận tải ngày trước, chiếc Vulcania, khi tàu rời bến cảng New York. Lúc đó, chiếc tàu chỉ có phòng ngủ tập thể, vì tàu chưa được sửa đổi lại sau thời chiến tranh. Tôi nín thở khi vẫy tay từ biệt họ đến với cuộc sống mới tại Bắc Phi.

 

Chẳng có những lời từ biệt trịnh trọng, chẳng có đại diện tiễn đưa, chẳng có phóng viên xô đẩy để tường thuật. Nhưng họ tin chắc rằng chỗ duy nhất trên đời này cho họ lúc đó là Tangier, Ma-rốc.

 

Lần kế tiếp tôi đến Tangier thì đó là một vùng đất vững chắc thuộc về chúng tôi. Tôi có thể dạo quanh, ngắm nhìn và lập kế hoạch. Tôi có thể đứng trong rừng thông và nói: “Lạy Chúa, cho tới nay, mọi việc thật tốt. Con cám ơn Ngài.”

 

Theo một ý nghĩa thì tôi có cảm giác nôn nao như được về nhà sau một chuyến đi thật dài. Đến một nơi tôi có thể nhìn tận mắt. Một nơi tôi có thể sờ. Một nơi tôi có thể đo đếm . . . chúng tôi có được mười bốn mẫu. Và dường như tôi cần nhìn thấy những ngọn đồi, cần ngửi được mùi gió muối tươi mát, và cảm nhận lá thông nhọn chích vào tay trước khi có thể nhận ra rằng việc mơ mộng lâu nay đã qua rồi, và đến lúc phải hành động.

 

Khu đất xinh đẹp nhìn ra eo biển Gibraltar nơi chúng tôi họp mặt vào một buổi hoàng hôn cách đây vài tháng sẽ là lý tưởng cho phòng phát thanh và nhà ở, nhưng chúng tôi không có tiền để mua. Một ngày nọ, trong lúc đang đi xe qua vùng đồng quê Pennsylvania cùng với người bạn là Clarence Staats, chúng tôi tình cờ đề cập khu đất ấy ở Tangier. Quay sang Betty Jane, ông Staats khiến nàng ngạc nhiên với hai câu hỏi thẳng thắn.

 

Trước hết, ông hỏi: “Paul có biết anh ấy đang nói gì không?”

 

Sau khi nàng chứng minh cho ông ta là tôi vẫn sáng suốt, thì ông tiếp:”Vậy sao anh chị không làm gì đi?”

 

Betty Jane kêu lên hoảng hốt, như thể đau đớn lắm: “Nhưng mà ông Staats ơi, tới mười lăm ngàn đô-la cơ!”

 

Sau khi thảo luận thêm việc mua đất, ông Staats khiến chúng tôi kinh ngạc khi bảo rằng: “Tôi không thấy có lý do nào để không thu xếp cho anh chị.”

 

Nguyên cả khoản tiền ông Staats dâng hiến ngay sau đó được gửi ngay tới cho ba tôi tại Tangier. Ông thương lượng xong xuôi với ông Elton và đứng chủ quyền mãnh đất dùng làm trụ sở phát thanh của chúng tôi. Chúng tôi tin rằng Tangier là vị trí lý tưởng cho đài phát thanh. Những thống kê cho thấy nó là địa điểm thuận lợi về kỹ thuật để từ đó phát thanh đi khắp châu Âu. Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) có hệ thống rất mạnh cách vị trí mà cơ quan phát thanh của chúng tôi sẽ dọn đến chỉ vài dặm và xa gần đều nghe được chương trình của họ.

 

Trong lúc đó, việc xây dựng tại Tangier đã khởi đầu. Chúng tôi phải chọn giữa hệ thống ăng-ten đơn giản nhất với một hệ thống hơi phức tạp hơn một chút. Nếu có thêm tiền, chúng tôi hẵn đã làm được nhiều hơn. Các kỹ sư của ông Southworth bắt đầu dựng cho chúng tôi một thiết bị phát sóng nhỏ còn thừa từ thời chiến – công suất 2500 oát (watts). Họ kèm thêm một cặp ăng-ten rất đơn giản. Ngân qũy của chúng tôi cho năm đầu là 10.000 đô-la – chưa tới một phần trăm con số sẽ đạt đến sau mười năm phát thanh.

 

Mối quan tâm của người Âu châu đối với chương trình phát thanh Cơ-đốc tại châu Âu hầu như là không có khi chúng tôi bắt đầu vào năm 1954. Một trong những lý do cho sự thờ ơ giữa vòng người Tin lành đó là ngoài Monaco và Luxembourg, không một quốc gia Âu châu nào có lối thoát cho những sáng kiến phát thanh tư nhân cả. Các cơ quan phát thanh hoặc là thuộc nhà nước, hoặc là được điều hành bởi một hệ thống giám sát, mà hệ thống này lại lập ra những ban bệ gồm toàn những người quan liêu được chỉ định tương ứng với thế lực của các đảng phái trong chính quyền. Các cơ quan này, vì là những định chế công, nên bị buộc phải mang tính đa nguyên trong từng khía cạnh của chương trình, kể cả phát thanh tôn giáo. Bởi thế, không chỉ tín đồ Tin lành tin Kinh Thánh, mà cả những người với bối cảnh thần học rất khác nhau cũng được hưởng các tiện nghi phát thanh: Thính giả sẽ đối diện, không chỉ với một sứ điệp Phúc âm rõ ràng, mà còn cả với những lời giảng của phái tự do, phi Thánh kinh nữa. Khái niệm về một mục sư Tin lành hoặc một nhà phát thanh Cơ-đốc có một chương trình đều đặn trên một đài Tin lành tọa lạc tại Âu châu dường như không thể có được.

 

Lúc đầu, khi ước vọng đánh thức và mở rộng mối quan tâm còn tươi mới, còn rõ ràng trong tôi, thì tôi thấy tình trạng thật bi đát như thể đập đầu vào tường đá. Các vị lãnh đạo Cơ-đốc có uy tín phán: “Phát thanh không phải là đường lối của chúng tôi. Chúng tôi biết người ta làm việc đó tại Mỹ, nhưng đó không phải là cách của chúng tôi.” Dĩ nhiên, họ không có những khả năng biến nó thành đường lối của họ như chúng tôi có ở Mỹ. Giành được sự tin tưởng cũng như mối quan tâm và hỗ trợ của Cơ-đốc nhân Âu châu là một tiến trình chậm chạp, gian nan.

 

Trong lúc đó, thỏa thuận hoạt động, hay đúng hơn là thỏa thuận thuê mướn, của chúng tôi với Đài Phát thanh Quốc tế của ông Southworth ở Tangier chất thêm cho chúng tôi một số nghĩa vụ cố định mỗi tháng. Mọi việc không tiến triển trôi chảy như chúng tôi muốn. Nguồn tài chánh vào rất chậm. Thậm chí ba tôi không có đủ tiền để mua một xe hơi cũ đã qua sử dụng. Ba mẹ tôi phải đón xe buýt để đi chợ, phải thận trọng đi đứng giữa đám đông. Ba tôi phải dè xẻn từng xu nhỏ khi sống ở đó. Họ tới đó tay không. Còn ở quê nhà thì tôi phải đi nhờ xe khắp nước Mỹ, hầu như không còn gì cả. Đó thực sự là những ngày khó khăn.

 

Dần dần hoàn cảnh thêm ngặt nghèo. Tiền không vào nữa. Chi phí thuê mướn chồng chất. Ba tôi cứng rắn phản đối chuyện nợ nần. Thanh toán đúng hạn mọi hóa đơn là một phần không thể thiếu trong lời chứng Cơ đốc của ông. Tất cả chúng tôi đều muốn làm một chứng nhân mẫu mực trong nếp sống và giao tế công việc, cũng như trong sứ điệp mà chúng tôi dự tính phát thanh. Những giấy báo nợ toán tiếp tục tới, và không có cách nào trả nổi

.

Áp lực trở nên nghiêm trọng đến nỗi ba tôi phải tự nắm quyền giải quyết. Chỉ ba tháng sau khi ba mẹ tôi đến Tangier, tôi nhận được bức điện của ông: “Paul, ba đã sắp xếp để rời bỏ công việc phát thanh và sẽ trở về, nếu ba mẹ không nhận được điều gì khích lệ hoặc trợ giúp thực sự nào trong tuần này,”

Lòng tôi tan nát.

 

     Kỳ tới:   Chương 8: Đài tiếng nói Tangier

 

Nếu các bạn muốn đọc các chương trước, xin liên hệ vuian@hotmail.com. Thân ái.

 

 

 

 

 


Họ và tên (*) Email (*)
Hiển thị email
Nội dung
 

Tháp Vĩnh Cửu: Chương XIII - Nước Đức đi đầu Các nhân viên giỏi giang của phòng soạn chương trình tại...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương XII - Sẳn sàng đến Monte Carlo Trong năm xây dựng và chuẩn bị tại Monte Carlo, vợ chồng...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương XI - Phép lạ tại MONACO tôi tự hỏi tại sao chúng ta lại thấy khó tin mỗi khi một...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương X - Những thách thức mới Tiếp theo là giọng ba tôi: “Paul à, Đức Chúa Trời đã làm...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương IX - Được thăng tiến
Tháp Vĩnh Cửu: Chương VIII - Đài tiếng nói Tangier Tôi thường thấy rằng Đức Chúa Trời sẽ đưa người tín đồ hầu...
   Đăng nhập | Đăng ký