Tháp Vĩnh Cửu: Chương VIII - Đài tiếng nói Tangier

Vài câu chuyện dường như nghe còn lạ hơn cả tiểu thuyết chỉ vì Đức Chúa Trời đã can thiệp vào và áp đặt khuôn mẫu của Ngài lên cuộc đời chúng tôi. Tôi thường thấy rằng Đức Chúa Trời sẽ đưa người tín đồ hầu như tới chỗ thật nguy kịch, hoặc khủng hoảng tận cùng, rồi sau đó Ngài mới ra tay. Nhiều lần trong lịch sử công tác phát thanh của chúng tôi tình huống dường như đang diễn tiến tới chỗ bế tắc, thì bỗng nhiên tôi lại tìm thấy câu trả lời ngay trước mắt mình. Tôi tin rằng trình tự này không phải là ngẫu nhiên; mà tôi tin đó chính là cách hành động của Đức Chúa Trời trong quyền tể trị của Ngài. Tôi tin điều quan trọng trong mọi nhu cầu hằng ngày của chúng ta là cứ làm theo như khả năng Ngài ban cho mình. Sau đó, khi chúng ta đã hết cách, thì Đức Chúa Trời sẽ bước vào.

 

Hôm ấy là ngày thứ bảy – ngày cuối tuần mà ba tôi đề cập trong điện tín. Lòng tôi thật nặng nề, tâm trí tê liệt. Tôi đã cầu nguyện hầu như liên tục xin Đức Chúa Trời làm một điều gì đó để cho phép “Đài Tiếng Nói Tangier” trở thành hiện thực. Chiều tối có tiếng chuông điện thoại. Đó là tiến sĩ Charles Stevens, mục sư của Hội thánh Salem Baptist ở Winston-Salem, North Carolina. Ông ở cách chúng tôi khoảng hai mươi tám dặm và đang trên đường đi về hướng chúng tôi.

 

“Paul à, tôi sắp đi ngang qua thành phố anh, và không biết anh có thì giờ gặp tôi vài phút hay không. Tôi đi tàu lên miền bắc để bắt đầu một hội nghị về Kinh Thánh vào ngày thứ bảy.”

 

Tôi đón ông ở sân ga và nghe ông nói về những buổi họp ông phải tổ chức, về trường Kinh thánh Piedmont Bible College của họ hiện ra sao, về tầm quan trọng của Chúa trong đời sống ông. Lúc đó, tôi thấy mình thật tệ vì chẳng nói năng gì nhiều để đóng góp vào câu chuyện. Bóng tối – khi chúng tôi ra khỏi sân ga – là bức màn che thích hợp cho tâm trạng phiền muộn của tôi.

 

Bỗng nhiên tôi để ý điều tiến sĩ Stevens đang nói với tôi: “Paul à, tôi tính chờ lúc về mới nói với anh điều này. Nhưng chẳng hiểu sao tôi lại cảm thấy tốt hơn là nên nói ngay bây giờ, trước khi tôi đi.”

 

Tiến sĩ  Stevens có biết công việc phát thanh của chúng tôi đang bắt đầu tại Bắc Phi. Ông quen với ba mẹ tôi. Nhưng hẵn là ông không thể nào biết về khủng hoảng tài chánh chúng tôi đang đối diện.

 

“Tôi có cầu nguyện nhiều cho song thân của anh. Hình ảnh họ hiện ra trong lòng và trí tôi nhiều lần suốt tuần qua. Tôi quyết định nhắc đến họ trước Hội thánh tôi ngay khi đi họp về trong tuần này. Tôi hi vọng là Hội thánh Salem Baptist sẽ thực sự đảm nhận tài trợ toàn phần cho song thân anh.”

 

Lúc ông nói, tôi đang nhìn xuống mảng nước đá nằm trên những thanh nối ngang đường rầy xe lửa. Tôi hầu như không dám ngẩng đầu lên trong khi ông nói tiếp.

 

“Tôi nghĩ là mình nên chờ sau khi thông qua vấn đề với ban trị sự Hội thánh, nhưng tôi đã đề cập với họ rồi, và họ tỏ ra muốn giúp. Chúng tôi chưa có quyết định chính thức. Dường như Đức Chúa Trời đặt điều này trong lòng tôi, và ban trị sự hài lòng với ý kiến này. Tôi vừa chợt nghĩ là mình nên đề cập vấn đề với anh ngay tối nay thay vì chờ một tuần nữa mới chính thức thông báo.”

 

Tôi cho tay vào trong áo khoác lấy ra tấm điện tín của ba tôi mà tôi đã gấp lại và mở ra nhiều lần, rồi đưa cho Tiến sĩ Stevens. “Ông sẽ không bao giờ biết được tin này có ý nghĩa thế nào đối với tôi!” – tôi chỉ có thể nói với ông như vậy.

 

Ông nghiêng qua khoác vai tôi và đọc bức điện tín trong khi tàu lửa ầm ầm tiến vào nhà ga. Ông lắc đầu, nói với vẻ hoàn toàn kinh ngạc: “Chúa làm cho chúng ta những việc thật kỳ diệu!”

 

Nếu con người này của Đức Chúa Trời chờ một tuần nữa mới cho tôi biết quyết định, thì hẳn đã quá trễ. Ba tôi hẳn đã lên đường về nhà rồi.

 

Đây chính là người bạn do Đức Chúa Trời đưa tới để cùng đứng với chúng tôi khi hoàn cảnh bế tắc. Người này tiếp nối người khác – những người bạn thật – được Đức Chúa Trời dấy lên trên bước đường để chia xẻ với chúng tôi, không chỉ lúc mọi việc tươi sáng, mà còn khi sự việc tối đen như mực nữa.

                                    * * * * *

Một trong những trung tâm truyền giảng Phúc âm trên lục địa Âu châu là Beatenberg, Thụy Sĩ. Chính là từ nơi đó mà tôi đã đi Tây Ban Nha lần đầu tiên, sáu năm về trước, tiếp theo sau hội nghị của tổ chức Youth For Christ. Đó là nơi chúng tôi gặp Hermann Schulte lần đầu. Sau đó, Đức Chúa Trời dẫn chúng tôi đến với những người mà sau này sẽ là chủ chốt trong các ban tiếng Pháp, tiếng Nam tư, tiếng Ru-ma-ni, cùng nhiều ban khác, cũng ngay tại cùng một địa điểm đó. Beatenberg là một làng nhỏ khuất lấp sâu trong vùng núi Alps thuộc Thụy Sĩ, khoảng 600 mét cao hơn vùng Interlaken, một trung tâm nghỉ mát quốc tế. Quanh năm, Bibelheim, một trường Kinh Thánh Âu châu với hiệu trưởng là tiến sĩ Wasserzug, đào tạo sinh viên cho công tác hầu việc giữa vòng dân nói tiếng Đức trên khắp thế giới. Suốt mùa hè, đó là một trung tâm hội nghị Cơ-đốc – lớn nhất trên lục địa, mở cửa suốt mười tuần, với số đông các nhà truyền giảng Phúc âm Âu châu tham dự. Điều hợp lý là chẳng sớm thì muộn, những Cơ đốc nhân sốt sắng quan tâm rao truyền tin mừng của Chúa Giê-xu Christ qua làn sóng phát thanh sẽ đến từ nhiều nước khác nhau khắp Âu châu qua ngã ngôi làng nhỏ bé này.

 

Chúng tôi đặc biệt có cảm tưởng Đức sẽ là nơi quan trọng để khởi đầu việc phát thanh càng sớm càng tốt. Chúng tôi đã thường xuyên cầu nguyện xin Đức Chúa Trời dẫn chúng tôi đến với những con người thích hợp, không chỉ là những người có thể cùng đứng với chúng tôi về mặt tài chánh, mà cũng là những người sẽ không chịu thỏa hiệp trong việc bảo vệ sứ điệp của Phúc âm.

 

Một thời gian lâu trước khi đa số người khác quan tâm, thì đã có một người tại Đức quan tâm sâu sắc tới việc phát thanh Phúc âm, tới mức ông ta cùng với vài người bạn đã mua số thì giờ bên lề chương trình phát thanh của đài Luxembourg. Thực sự đó là thì giờ rất bất tiện, nhưng cũng đủ làm thí dụ để thuyết phục Hermann Schulte trong việc dùng làn sóng phát thanh đem Lời Đức Chúa Trời đến với hàng triệu người.

 

Ngay khi nghe tin hội nghị về “Đài Tiếng Nói Tangier”, ông này liên lạc với ba tôi tại Beatenberg. Thật lạ lùng là Chúa đã cảm động ông về nhu cầu cần phải giúp đỡ thật sự. Hermann Schulte đã chia xẻ gánh nặng cùng khải tượng của chúng tôi vào lúc chúng tôi cảm thấy mọi việc cần hoàn tất đang chồng chất tới mức bản thân chúng tôi không thể nào làm được bằng sức người. Thật lạ lùng, ông đã qui tụ được nhiều lãnh đạo cùng thương gia Cơ-đốc có tiếng tại Đức chung quanh chủ đề trọng tâm là làm chứng qua phát thanh.

 

Ngay từ lần đầu gặp gỡ Hermann Schulte, chúng tôi có ấn tượng ngay đây là một người rất quen thân với Chúa. Có vẻ như ngay từ đầu, người này đã biết cách giúp chúng tôi cất dở gánh nặng. Qua những lời đối thoại đầu tiên, chúng tôi biết ngay ông sẽ không nói: “Tốt, bây giờ các ông cứ đến giúp chúng tôi. Chúng tôi chắc chắn rất vui được các ông thực hiện một loạt chương trình phát thanh cho đồng bào của mình.”

 

Đây chính là con người – mà theo ý Đức Chúa Trời – sẽ nói: “Tôi sẽ thực sự mang lấy gánh nặng và cùng nhấc nó lên với các ông.”

 

Tôi nhớ đã được an ủi thật nhiều khi đột nhiên nhận ra rằng ngay tại một trong những vùng đất mục tiêu quan trọng nhất của chúng tôi tại châu Âu có những Cơ- đốc nhân quan tâm giúp đồng bào mình. Một mối quan tâm của những người bản xứ như vậy cho chúng tôi lợi thế thành công trong dự án – nhiều hơn nhiều so với điều chúng tôi có thể đạt được với nhiệt tình bên ngoài của mình đổ vào những thính giả chưa sẵn sàng.

 

Ngay tại điểm này tôi bắt đầu nhận biết Đức Chúa Trời không chỉ đang mở cửa. Ngài cho chúng tôi những người sẽ cùng đứng vào chỗ trống với chúng tôi, những con người biết cách giúp chúng tôi cất dở gánh nặng. Khích lệ lớn nhất chính là khi chúng tôi hiểu rằng Đức Chúa Trời có những người của Ngài rải rác khắp châu Âu – những người Ngài sẽ chạm đến khi Ngài muốn dùng họ – những người hoàn toàn tận hiến cho Ngài. Qua suốt công việc, tôi có thể nhìn lại và thấy những con người làm việc chỗ này, chỗ kia, chỗ khác. Dầu ở đâu thì họ đều chẳng phải là số đông. Nhưng vì tận hiến cho việc làm chứng Phúc âm giữa vòng đồng bào mình, nên những con người chủ chốt này qui tụ quanh mình những người khác chịu tìm hiểu để biết được tầm quan trọng của công việc phát thanh.

 

Ruben Lores, một trong những người cùng tâm tình có mặt trong buổi nhóm cầu nguyện đầu tiên nhìn xuống eo biển tại Tangier, đã đảm nhận chương trình phát thanh tiếng Tây Ban Nha ngay. Ngoài nhiệm vụ thường lệ là mục sư của hội thánh Tây Ban Nha địa phương tại Tangier, ông cũng là thành viên bán thời gian trong ban phát thanh ngay khi chúng tôi chuẩn bị lịch phát thanh vào tháng hai 1954. Khi kế hoạch của ông thay đổi, buộc ông phải trở về xứ là Cu-ba, chúng tôi nhận ra mình phải đối diện với việc tìm người thế chỗ cho vị trí chủ chốt ấy trong công việc của chúng tôi.

 

Theo lịch, ba tôi phải vào châu Âu lần đầu tiên kể từ khi hoạt động của chúng tôi bắt đầu, và ông đã lên đường với tên của vài vị giáo sĩ tại Tây Ban Nha cũng như những chỗ khác, là những người có thể cho chúng tôi những gợi ý hũu ích.

 

Đến Beatenberg, ông thấy chương trình của Chúa được bày tỏ cách bất ngờ hơn hết. Ba tôi kể lại thể nào Đức Chúa Trời đã dẫn dắt một cách sống động như sau:

 

“Tôi đang nói chuyện với một thương gia tiếng tăm và mời ông cùng với tôi cầu nguyện xin một người nói tiếng Tây Ban Nha giúp cho ‘Đài Tiếng Nói Tangier.’

 

“Ngày hôm sau, ông nói là ông nghĩ có người có thể giúp cho phần việc tiếng Tây Ban Nha. Ông có quen một cặp vợ chồng trẻ, gia đình Valbuenas, tốt nghiệp trường Kinh thánh Lausanne, Thụy sĩ, gần nhà ông. Ông biết họ từ quê nhà ở Barcelona đến học ở đó. Dù sao tôi cũng đang tới đó để kiếm người, bởi lẽ cộng đoàn Tin Lành đông nhất tại Tây Ban Nha tập trung tại Barcelona. Chắc chắn đây là lời chỉ dẫn đáng để kiểm tra.

 

“Khi tôi hỏi về Sr. Valbuena ở Barcelona thì được biết ông đang ở Ca-na-đa trong ba tháng, dạy Kinh Thánh tại Quebec. Phản ứng đầu tiên của tôi là : ‘Vậy thì thôi!’ Sau khi tìm quanh một hồi, tôi thấy không có ai khác có vẻ đủ điều kiện như vậy.

 

“Tàu lửa phải rời thành phố lúc 1 giờ chiều. Sáng ngày hôm đó, tôi có cảm tưởng mạnh mẽ rằng mình phải tìm gặp vợ ông ấy. Chỉ qua cuộc viếng thăm ngắn ngủi, tôi đã có ấn tượng thật thuận lợi về Maria Valbuena và nói cho bà ấy biết lý do tôi đến Barcelona. Khi tôi từ giã, bà ấy hứa: ‘Tôi sẽ viết thư cho Miguel tại Ca-na-đa, nói cho ông ấy về nhu cầu của ông.’

 

“Khoảng mười ngày sau, chúng tôi nhận được thư của Miguel Valbuena từ Canada: ‘Tôi đã cầu nguyện nhiều cho chức vụ tương lai của mình. Hiện tôi đang ở Quebec chỉ để thăm thôi. Chúa đã tác động tôi suy nghĩ rằng tôi không nên làm việc cá nhân tại Tây Ban Nha, nhưng Ngài cần tôi trong một chức vụ rộng lớn hơn. Tôi không biết chức vụ đó sẽ là nơi nào. Khi thư tới, tôi cảm thấy ngay rằng “Đài Tiếng Nói Tangier” là câu trả lời cho tôi.’”

 

Đầu năm 1955, Miguel và Maria Valbuena đến cộng tác với chúng tôi tại Tangier. Ngoài chương trình mình phụ trách, ông đã triển khai thêm một chức vụ mở rộng quy mô giữa vòng những người nói tiếng Tây Ban Nha, và đồng thời cũng làm nhiều việc để triển khai những khóa học Kinh thánh trên khắp đất nước Tây Ban Nha. Còn Maria thì soạn ra một thời khóa biểu đa dạng về những sinh hoạt có liên quan giữa vòng trẻ em ở Tangier, như là phần chăm sóc tiếp theo sau những chương trình phát thanh cực kỳ hiệu quả của mình dành cho các em.

 

Tiếp theo sự khởi đầu các chương trình bằng tiếng Tây Ban Nha và tiếng Đức, chúng tôi có thể xúc tiến những chương trình phát thanh cho Nam tư và Ru-ma-ni qua những cuộc tiếp xúc cũng tại Beatenberg. Ba tôi đã nhiều lần được mời dành cả mùa hè chia xẻ tại hội nghị. Một hè nọ ông làm quen với Tiến sĩ Josef Horak, một viên chức chính phủ nổi tiếng trong bộ kinh tế Nam Tư. Ông cũng là chủ tịch của hội Báp-tít Liên hiệp tại Nam tư; nhưng quan trọng hơn, ông là một người của Đức Chúa Trời thật sự. Ngay sau đó tôi đi Zagreb, Nam Tư, nơi giới trẻ cũng như người cao tuổi đều rất quan tâm đến việc truyền bá Phúc âm cho dân tộc mình bằng sóng vô tuyến. Chuyến viếng thăm này là khởi điểm của mối liên kết tấm lòng thực sự với người dân Nam Tư.

 

Trong một xứ chủ yếu là Chánh thống giáo Hi Lạp và một phần là Hồi giáo, dường như dự án kết quả là làm sao nhân lên chức vụ của mấy mươi ngôi nhà thờ Tin Lành tại đây thông qua sự quan tâm của con người này. Tiến sĩ Horak bắt đầu ghi âm cho chúng tôi bằng tiếng Croatia-Serbia của ông, còn cô con gái lớn thì hát cho chương trình phát thanh. Chúng tôi khám phá ra rằng dù chính quyền trên danh nghĩa là vô thần, nhưng cũng có khá nhiều tự do tôn giáo. Sau này các kỹ sư của chúng tôi có thể vào Nam Tư và cùng với tiến sĩ Horak đi đây đó ghi âm những ca đoàn cùng sứ điệp của nhiều mục sư. Cuối cùng chúng tôi cung cấp cho ông máy ghi âm bán chuyên nghiệp, và ông đã ghi âm nhiều sứ điệp ngay tại nhà mình. Sau đó những băng ghi âm này được gửi tới chúng tôi để phát lại cho dân tộc ông tại Nam Tư qua hệ thống làn sóng ngắn của “Đái Tiếng Nói Tangier.”

 

Một tiếp xúc khác tại Beatenberg mở cửa cho những chương trình phát thanh hướng vào vào Ru-ma-ni. Ông Hodoroaba, một nhà truyền đạo Báp-tít tại Ru-ma-ni, đã sang Pháp và tổ chức dân tị nạn Ru-ma-ni thành một Hội thánh Báp tít tại ngoại ô Paris. Là người vốn có tính nhiệt tình, ông lấy làm phấn khởi về đài của chúng tôi ngay khi nghe biết về nó: “Tôi muốn nói trên đài của các bạn!”

 

Với sự trợ giúp của bạn hữu tại Đức ủng hộ chức vụ phát thanh của ông, ông đã thường xuyên góp phần tham gia vào “Đài Tiếng Nói Tangier” – cả bằng sứ điệp của chính ông lẫn âm nhạc của ca đoàn Hội thánh ông.

 

Trong trường hợp cả hai chương trình tiếng Nam Tư và Ru-ma-ni, chúng tôi thấy chúng đã đến được với nhiều thính giả. Các chương trình tiếng Ru-ma-ni được phát sóng không chỉ cho nước này, mà còn cho cả Tây Âu, nơi có nhiều dân tị nạn. Qua nhiều thư từ gửi tới chúng tôi, và những bạn hữu đến thăm tường thuật lại, chúng tôi biết được những câu chuyện đầy khích lệ cho biết các chương trình phát thanh có ý nghĩa thế nào đối với họ. Những nhóm lớn – không phải chỉ ba, bốn hoặc chục người – tụ tập trong nhà để nghe chương trình phát thanh.

 

Khởi đầu khiêm tốn với vài ban ngôn ngữ như thế, công việc tiếp tục phát triển cho tới khi có những chương trình phát thanh theo hai mươi bốn nhóm ngôn ngữ khác nhau. Năm 1956 máy phát sóng cũ được thay thế bằng máy10.000 oát và ngay sau đó, máy phát sóng 10.000 oát thứ hai tăng gấp đôi công suất mới. Hệ thống ăng-ten cũ đơn giản mỗi lúc càng trở nên phức tạp hơn, khi chúng tôi phát sóng những chương trình đặc biệt cho hầu hết mọi nước tại châu Âu, Bắc Phi, Trung Đông, và sau Bức Màn Sắt.

 

Với mối quan tâm ngày càng tăng của những người hầu việc Chúa tại nhiều nước Âu châu khác nhau đối với hoạt động phát thanh Phúc âm, nhu cầu cấp bách nổi lên là cần phải có một đội ngũ nhân sự truyền giáo thỏa đáng để thực hiện công tác kỹ thuật, quản trị và văn phòng của “Đài Tiếng Nói Tangier.”

 

Vào những ngày đầu tiên đó tôi thấy khó tìm ra những người trẻ đăng ký vào vụ truyền giáo (missionary service). Đa số họ chưa hề nghe “Đài Tiếng Nói Tangier,” còn các Hội thánh thì chậm chạp trong việc cam kết hỗ trợ một tổ chức giáo sĩ mới. Nhưng chính trong việc này Chúa cũng đã có cách diệu kỳ riêng của Ngài để phá vỡ sự bế tắc này.

 

Tại Tangier, ba mẹ tôi hằng ngày cầu nguyện xin giúp thêm giáo sĩ. Tôi viết cho ba tôi rằng trước mắt chẳng có ứng viên nào cả. Một hôm ba tôi nhận được thư của cô Anna Lee Erickson, một trong những sinh viên nhiều hứa hẹn tại trường Kinh thánh Canadian Bible Institute ở Regina lúc ba tôi còn dạy ở đó và mẹ tôi là chủ nhiệm khoa Phụ nữ.

 

Thư của Anna Lee đại khái như sau: “Qua chức vụ của ông tại Regina, mỗi lúc tôi càng cảm thấy thêm gánh nặng truyền giáo. Tâm trí tôi cứ trăn trở mãi không biết nên đăng ký vào hội truyền giáo lớn nào. Không hiểu sao, tôi cứ nghĩ mình phải phục vụ Chúa trên cánh đồng truyền giáo cùng với gia đình Freed hơn là bất cứ nơi nào khác. Ông có thể sử dụng tôi không?” Vì đã biết rõ Anna Lee trong ba năm, nên song thân tôi trả lời ngay trong ngày: “Đồng ý.” Tôi tin đây là tiến trình xin việc nhanh nhất trong lịch sử của đài Phát thanh Xuyên Thế giới.

 

Theo cách diệu kỳ của Đức Chúa Trời, trường hợp này đã làm thay đổi chiều hướng tình hình, và chẳng mấy chốc, đơn xin việc bắt đầu được gửi về. Lúc đầu chính cá nhân tôi giúp gây quỹ hỗ trợ. Cuối năm năm đầu hoạt động, con số nhân viên tại hiện trường của chúng tôi ở Tangier đã từ hai tăng lên hai mươi sáu.

 

Tangier là mặt trận tốt để chúng tôi hoạt động, và nhu cầu về phòng phát thanh cũng như giấy phép để nâng cao thêm công suất thiết bị khiến chúng tôi cứ phải luôn dự toán kế hoạch. Nhưng điều có vẻ lạ là ngân qũy dự trù cho Tangier đã không tới. Chúng tôi không hiểu vì sao, nhưng hầu như ngay từ đầu chúng tôi vẫn luôn tìm kiếm trước những địa điểm khác trên lục địa Âu châu.

 

     Kỳ tới:    Chương 9: Được thăng tiến.

 

Nếu các bạn muốn đọc các chương trước, xin liên hệ vuian@hotmail.com.

 

 


Họ và tên (*) Email (*)
Hiển thị email
Nội dung
 

Tháp Vĩnh Cửu: Chương XIII - Nước Đức đi đầu Các nhân viên giỏi giang của phòng soạn chương trình tại...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương XII - Sẳn sàng đến Monte Carlo Trong năm xây dựng và chuẩn bị tại Monte Carlo, vợ chồng...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương XI - Phép lạ tại MONACO tôi tự hỏi tại sao chúng ta lại thấy khó tin mỗi khi một...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương X - Những thách thức mới Tiếp theo là giọng ba tôi: “Paul à, Đức Chúa Trời đã làm...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương IX - Được thăng tiến
Tháp vĩnh cửu: Chương VII - Trở lại khu rừng thông “Điều quan trọng không phải là chúng ta đã bỏ ra bao nhiêu...
   Đăng nhập | Đăng ký