Tháp Vĩnh Cửu: Chương IX - Được thăng tiến

Mùa xuân năm 1957, khi từ Mỹ sang Ma-rốc, tôi chẳng có lý do gì để cảm thấy đang có trở ngại. Mọi việc đều ổn thỏa tại đài Tangier. Nhiều người đang nghe chương trình của chúng tôi phát thanh bằng hai mươi bốn thứ tiếng. Nhưng hầu như trong tiềm thức, Chúa khiến tôi thấy là mình phải xem xét những khả năng để mở địa điểm phát thanh thay thế ngay tại châu Âu.

 

Đêm hôm trước khi phải trở về Mỹ, tôi cùng ba mẹ lái xe về nhà sau khi xuống phố tại Tangier. Chúng tôi dừng xe trước Bệnh viện Truyền giáo Bắc Phi để nói chuyện và cầu nguyện – như chúng tôi đã từng làm nhiều lần trước đây – xin Chúa dẫn bước chúng tôi. Chẳng suy nghĩ gì nhiều, tôi nói: “Có lẽ con sẽ về lại Greensboro theo đường Monte Carlo.”

 

Vừa khi nói lớn như vậy, tôi nghĩ sẽ bị phản đối: “Con ơi, vậy là sai chương trình rồi. Không nên làm vậy.”

 

Thế nhưng ngược lại, tôi nghe mẹ nói: “Paul à, mẹ nghĩ có lẽ con nên tới Monte Carlo. Mẹ tin là Đức Chúa Trời thực sự có mặt trong sự việc này.”

 

Tôi ngạc nhiên là ba tôi cũng cảm thấy Đức Chúa Trời đang dẫn dắt theo hướng đó. Niềm xác tín trọn vẹn của họ về sự hướng dẫn của Chúa luôn luôn là nguồn khích lệ lớn cho tôi. Họ không bao giờ do dự khi quyết định. Lúc đã biết chắc Đức Chúa Trời dẫn dắt mình, thì không còn lựa chọn, không còn bàn cãi nữa. Qua nhiều kinh nghiệm, tôi tin chắc rằng Đức Chúa Trời không có hai phương hướng cho đời sống chúng ta. Vấn đề chỉ là tìm biết đường lối Ngài, rồi hành động theo đó.

 

Cả ba chúng tôi lại cầu nguyện. Và sáng hôm sau – với tâm trạng vô cùng nôn nao – tôi chuyển từ chuyến bay đi New York City sang chuyến bay đi Monte Carlo. Nhiều lần trong những ngày trước mặt, tôi phải nhìn nhận lần gặp nửa khuya đêm đó là chứng cớ hướng dẫn chắc chắn của Đức Chúa Trời.

 

Tại đài, ông E. Bosio , một ủy viên ban quản trị đài Phát thanh Monte Carlo, đón tiếp tôi. Ông biết rõ công việc của chúng tôi tại Tangier, và khen chúng tôi làm tốt trong hoạt động phát thanh. Ông đưa tôi lên đỉnh núi nơi đặt những máy phát sóng. Khi chúng tôi nhìn khắp thành phố, tôi dò ý ông về tính khả thi của việc chúng tôi dời về Monaco, và qua giấy phép của họ, dựng một máy phát sóng cho chương trình phát thanh Cơ-đốc toàn thời gian. Chúng tôi đề cập loại ăng-ten định hướng cần thiết để có thể phát được đến vùng đó trên thế giới. Sau đó, khi cuối cùng bàn về khả năng tìm một số nhân viên cho đài, thì tôi thấy họ đáp ứng rất tích cực. Vào thời điểm ấy, họ cũng quan ngại nên không muốn tôi tiết lộ ra ngoài đáp ứng của họ, mà chỉ tiếp tục liên lạc và cùng nhau thận trọng hoạch định thêm chi tiết.

 

Vào hè thì công việc ở Tangier tiến triển êm xuôi đủ để ba mẹ tôi thực hiện chuyến về nghỉ tại Hoa Kỳ mà họ xứng đáng được hưởng. Trên đường về Mỹ, họ quyết định ghé qua công quốc bé nhỏ Monaco. Tôi tự hỏi không biết mẹ tôi có nghi ngại gì không khi bà thực sự nhìn thấy Monte Carlo với mọi vẻ huyền hoặc của nó. Tôi chắc chắn phản ứng thông thường của bà sẽ là: “Việc này là chuyện hơi không tưởng đấy. ”

 

Ba mẹ tôi đăng ký vào khách sạn Majestic hướng ra bến cảng. Ba tôi kể lại mẹ ngắm cảnh rồi nói: “Ralph à, em cảm thấy mạnh mẽ rằng Chúa đang ở trong toàn bộ sự việc này.”

 

Vào tháng chín 1957, tôi đến nhà em gái tôi là Ruth, ở Ringwood, New Jersey. Vợ tôi và tôi đang trong tiến trình chuyển cả gia đình cùng trụ sở của chương trình Phát thanh Xuyên Thế giới từ Greensboro, North Carolina, đến vùng New York – để tiện hơn cho các giáo sĩ lui tới. Vào lúc ba mẹ tôi về đến thì chúng tôi đang sống gần nhà Ruth với chồng là Ben Armstrong, hiện vẫn đang chủ tọa Hội thánh Cộng đồng tại Ringwood. Thật là tuyệt vời khi tất cả chúng tôi được gặp nhau – ba mẹ, con, cháu. Một trong những buổi ăn mừng của chúng tôi là kỷ niệm bốn mươi năm đám cưới của ba mẹ, ngày mươì bốn tháng mười một. Ba tôi vui được đi mua một món quà nhỏ để tặng người bạn đời của mình. Tất cả chúng tôi đều có thể thấy niềm vui trong cuộc sống chung của họ. Rõ ràng là họ yêu thương nhau sâu đậm, luôn tìm cách làm sao để hiểu nhau và làm vui lòng nhau.

 

Lúc đầu ba tôi đi giảng, thỉnh thoảng vắng nhà, nên tôi có cơ hội ở nhà với mẹ – chỉ có hai mẹ con. Tôi còn nhớ vẻ biết ơn thầm lặng của bà, niềm vui sâu xa của bà về đứa con thứ tư của chúng tôi là Stevie lúc đó được tám tháng. Một hôm trong vườn nhà chúng tôi, mẹ tôi ngồi trên ghế ở sân cỏ ngước nhìn tôi và nhận xét một cách thâm thúy: “Paul à, Chúa làm mọi việc thật tốt đẹp.”

 

Vào khoảng giữa tháng mười một, tôi có hẹn giảng tại Hội thánh Church of the Open Door ở West Coast. Vài người bạn đem xe tới đưa tôi ra phi trường. Khi tôi đang chào từ biệt gia đình, thì một chuyện lạ xảy ra. Tôi sẽ chỉ đi có bốn hoặc năm ngày thôi, nhưng bỗng nhiên tôi cảm thấy thôi thúc mãnh liệt muốn nói chuyện với mẹ. Tôi xin lỗi mọi người, bước trở vào phòng mẹ tôi và làm một việc mà tôi chưa hề làm theo cách đó bao giờ. Mẹ con tôi vẫn thường rất gần gũi nhau, nhưng lần đầu tiên trong đời – chẳng có lý do nào rõ ràng – tôi đã để ra khoảng mười phút nói với mẹ rằng tôi yêu mẹ dường nào, ảnh hưởng của mẹ có ý nghĩa biết bao trên cuộc đời tôi. Bà bắt đầu khóc. Nhưng tôi muốn mẹ biết cuộc đời của bà là nguồn cảm hứng lớn lao cho tôi, bà thật dịu dàng với tôi, và tôi cứ tiếp tục nói. Tôi nói với mẹ là tôi rất vui ba mẹ đã trở về Mỹ, và tôi mong chờ được có mẹ bên cạnh suốt năm. Tôi nhớ đã lau nước mắt cho mẹ, và hôn từ biệt mẹ. Rồi tôi vội vã ra xe đến phi trường, và chẳng bao lâu đã tới bờ bên kia của nước Mỹ, ở Los Angeles.

 

Vì ba mẹ tôi về nghỉ ngơi cũng như để thuật cho các Hội thánh điều Chúa đang làm qua “Đài Tiếng Nói Tangier,” cho nên họ quyết định tốt nhất là nên thuê một nơi ở riêng suốt cả năm.

 

Trong khi tôi đi vắng, nhân viên nhà đất cho họ xem một căn nhà nhìn ra hồ. Giá cả phải chăng và ngôi nhà có vẻ xinh xắn. Mẹ tôi giống như một bé gái có được búp bê mới.

 

“Ralph à, biết đâu Chúa lại cho mình có được nơi ở nhỏ bé xinh đẹp này thì sao nhỉ?”

 

Ánh mắt bà long lanh khi song thân tôi đi bộ khoảng mười lăm phút về nhà Ruth. Bà có vẻ mệt mỏi, nhưng cứ luôn miệng nói cám ơn Chúa vì có được căn nhà riêng xinh xắn. Chúa thật nhân từ biết bao!

 

Ba tôi để ý thấy mẹ tôi bước chậm hơn bình thường, nhưng bà chỉ mỉm cười nói: “Em chỉ mệt thôi.” Trong bữa ăn trưa, họ nói chuyện về căn nhà, và thích thú đề cập chuyện trang hoàng nhà cửa. Mẹ tôi vô cùng biết ơn Chúa về sự nhơn từ của Ngài khi kể lại cho Ruth và Ben việc gặp nhân viên nhà đất hồi sáng, và mô tả việc tìm ra căn nhà nhỏ trên bờ hồ – giống như ngôi nhà trong mộng.

 

Chiều hôm ấy bà than đau, cộng thêm cảm giác khó chịu ở bao tử. Lại ăn không tiêu rồi, bà giải thích, và đi ra ngoài dạo quanh nhà. Trong mấy năm qua, bà đã bị như thế nhiều lần, nhưng lần này khi bước vào nhà, cơn đau trở nên nặng hơn, và lan qua vai cùng cánh tay trái.

 

Hồi còn ở  nước ngoài tại vùng Trung Đông, gia đình chúng tôi đã nhiều lần trông đợi Chúa khi không có bệnh viện cũng chẳng có nhà thuốc. Chúng tôi không có thói quen mời bác sĩ ngoại trừ bị ốm nặng. Buổi chiều đặc biệt này tại New Jersey, mẹ tôi tin chắc mọi chuyện sẽ bình thường. Nhưng khi Bác sĩ Duff Brown nghe về cơn đau nơi ngực cùng cánh tay bà thì ông khuyên nên mời bác sĩ chuyên khoa tim và nên đưa bà đi bịnh viện ngay.

 

Ben cùng đi trong xe cứu thương với bà tới bịnh viện ở Montclair. Sau này dượng ấy nói với tôi là lúc đó bà vẫn nghĩ vấn đề là do tiêu hóa. Cơn đau có thuyên giảm và bà không thấy khó chịu lắm. Họ cười đùa với nhau khi xe bật đèn đỏ luồn lách một cách đáng sợ trong bóng đêm. Thực sự cả nhà đều cho là bác sĩ đã quá thận trọng khi đề cập khả năng bị bịnh tim của bà; sức khỏe bà đang rất tốt.

 

Khi xe cứu thương vào tới cổng cấp cứu tại bệnh viện Mountainside thì đã tám giờ tối. Dượng Ben lo ổn định chỗ cho bà qua đêm xong mới về nhà. Ba tôi thức chờ nghe tin trực tiếp từ dượng ấy. Nhưng sau khi biết bà đã dễ chịu phần nào, thì ông quyết định đi nghỉ để chuẩn bị vào thăm bà lúc sáng sớm.

 

Khi tôi trở về khách sạn tại California sau buổi nhóm, trên bàn có giấy nhắn gọi cho tổng đài ở New Jersey. Khi nối máy được, vợ tôi báo là có một việc khó nói: “Mẹ bị suy tim, Paul à. Nhưng bác sĩ nói bà khỏe nhiều rồi.”

 

Thật là cú sốc nặng nề cho tôi. Lúc lần lữa từ biệt tôi không mảy may nghĩ tới vấn đề gì. Tôi nghĩ đến những lần mà Đức Chúa Trời đã thực sự chữa cho mẹ tôi. Một lần nọ tại Trung Đông, Ngài đã làm phép lạ đỡ bà dậy khỏi tình trạng giống như là phút lâm chung. Tôi tin chắc là Đức Chúa Trời sẽ cho bà ở với chúng tôi chừng nào mà Ngài còn cần tới bà tại nơi này. Trước đây đã có nhiều lần tôi nghĩ bà sẽ qua đời. Tôi biết bà sẽ ra đi khi Chúa muốn, nhưng tôi thấy lòng nặng nề lúc gác máy điện thoại. Tôi bước ra đường đến quãng trường. Tôi cầu xin Đức Chúa Trời bày tỏ ý muốn Ngài trên đời sống bà như Ngài đã làm suốt nhiều năm nay. Khoảng 2 giờ sáng tôi trở về phòng và ngủ thiếp đi. Mới bốn giờ sáng, tôi bị đánh thức bởi tiếng chuông điện thoại chói tai.

 

Giọng Betty Jane nghe thật gần khi nàng nói: “Anh yêu, anh có bình tĩnh không đó? Mẹ vừa từ giã chúng ta về với Chúa rồi, Paul à.”

 

Dù rằng câu nói của Betty Jane là cú giáng khủng khiếp khiến tôi sững sờ, nhưng tôi vẫn nghe giọng mẹ vang bên tai: “Chúa đang điều khiển cuộc đời chúng ta, Paul à. Và Ngài làm việc đó theo cách riêng của Ngài.”

 

Cái chết đột ngột của bà cũng khiến bác sĩ phải kinh ngạc. Bác sĩ chuyên khoa tim đã được mời đến ngay. Mẹ tôi đã ngủ ngon và ăn sáng. Các biểu đồ theo dõi bà trong thời gian ngắn ở bịnh viện cho thấy bà vẫn khỏe. Mọi thứ có thể làm đã được hoàn tất. Nhưng sau bữa điểm tâm, khi mà theo như bình thường thì bà sẽ đi tới đi lui, thì y tá nghĩ là có sự yên lặng bất bình thường. Cô ta mở cửa phòng để kiểm tra thì thấy mẹ đã lặng lẽ qua đời. Đây là cơn suy tim thứ hai.

 

Ba tôi thường nói: “Mẹ con là tấm gương và nguồn khích lệ lớn cho ba, đặc biệt trong những lúc thử thách. Chẳng còn nghi ngờ gì, ba biết phản ứng của mẹ là luôn luôn không nhìn lui, mà là nhìn tới để học điều Chúa muốn dạy chúng ta qua kinh nghiệm của mình. Câu ‘đi ở với Đấng Christ là điều rất tốt hơn’ giống như một loại dầu thơm xoa dịu lòng đau đớn của ba. Câu này là niềm an ủi lớn, và ba thường xin Đức Chúa Trời ban ơn để ba biết rằng đối với mẹ, đây cũng là điều rất tốt hơn.”

 

Mẹ tôi lúc nào cũng nghĩ tới người khác. Bà là loại người hoàn toàn quên mình. Cả cuộc đời bà có thể được thu gọn trong từ “cầu nguyện.” Lúc nào bà cũng lo cho ba tôi, cho gia đình, cho công việc phát thanh – không bao giờ lo cho mình. Về sau chúng tôi được biết là chỉ vài phút trước khi qua đời, bà đã nói về ơn lành của Chúa trên chức vụ phát thanh tại Tangier.

 

Vào tám giờ ngay buổi sáng hôm đó (giờ California) thì tôi đang trên đường bay từ Los Angeles trực chỉ hướng đông về với gia đình. Suốt chuyến bay, thực tế về những điều tôi đã từng giảng biết bao nhiêu lần tại nhiều nước lại hiện đến với tôi. Lần đầu tiên trong đời, cá nhân tôi kinh nghiệm được thực tế của sự thật vinh quang – ấy là sẽ có ngày tôi gặp lại mẹ, mặt đối mặt. Tôi tin chắc điều này môt trăm phần trăm khi tôi bay ngang bầu trời và xem xét lại toàn bộ ý nghĩa món quà cứu rỗi cũng như sự sống đời đời mà Đức Chúa Trời ban cho qua Chúa Giê-xu Christ. Gặp Ngài và gặp lại mẹ một ngày kia trở thành một thực tế tuyệt đối và điều tin quyết trong trí lẫn trong lòng tôi.

 

Dù bị chết lặng với tin sét đánh đó, nhưng đồng thời tôi cũng hiểu được một số điều thật rõ ràng không thể lầm lẫn được. Tôi không thể chỉ nghĩ đến sự mất mát thể xác. Tôi không thể tách Đức Chúa Trời ra khỏi sự thật là mẹ tôi đã không còn cử động, nói năng trong thế giới vật chất của chúng ta. Mẹ tôi đã liên tục sống với Chúa. Và mọi người biết rõ đời sống ngọt ngào của bà đều nhận ra đó là kết quả của mối liên hiệp giữa bà với Ngài. Việc bà xa cách tầm với của chúng ta không phải là kế hoạch của con người – đó là kế hoạch của Đức Chúa Trời để đưa bà vào trong hiện diện với Ngài.

 

Chúa đã giúp tất cả chúng tôi lúc trải qua mọi khó khăn mà ai cũng phải đối diện khi có người thân qua đời. Tại New Jersey chúng tôi chưa quen biết nhiều, nhưng chúng tôi mong ước tìm được người thân gần với chúng tôi và thực sự yêu Chúa để làm lễ tang. Tiến sĩ Charles Stevens, người mà Đức Chúa Trời đã sai đến đáp ứng nhu cầu của chúng tôi trong cơn khủng hoảng tài chánh những ngày đầu tại Tangier, xuất hiện trước tiên trong trí tôi. Khi tôi gọi điện cho ông tại Winston-Salem, North Carolina, thì ông vừa trở về sau một loạt hội họp đặc biệt tại Florida. Ông rất mệt, nhưng ông muốn chia xẻ với chúng tôi trong cơn đau buồn theo bất cứ cách nào xem là tốt nhất. Tôi hỏi ông có thể đến làm lễ tang được không, thì ông nói: “Tôi xem đó là đặc ân.”

 

Ông biết rõ cả ba và mẹ tôi. Thật ra, chính Hội thánh ông đã hổ trợ cho họ tại Tangier. Ông đã đi sáu trăm dặm hôm ấy để giúp chúng tôi, và tôi không bao giờ có thể nói hết được ý nghĩa sự hiện diện của ông. Qua những lời ít ỏi mà ông trao đổi riêng với tôi, và qua chính buổi lễ, mối liên hệ gần gũi ràng buộc Cơ-đốc nhân với nhau thật là ấm áp và hết sức rõ ràng.

 

Mẹ tôi không hề trở về trong suy nghĩ hoặc giấc mơ của tôi theo bất cứ cách dị thường hoặc kỳ lạ nào. Trí và lòng tôi luôn tin tưởng tuyệt đối rằng mẹ tôi không còn ở đây nữa, vì bà đang ở với Chúa. Tôi không biết những người khác sẽ thế nào, chứ tôi thì chỉ mới viếng mộ bà hai, ba lần gì đó kể từ tang lễ cho đến nay. Không phải là tôi cố tình tránh né. Tôi có thể đi bất cứ lúc nào. Nhưng mẹ tôi đâu có ở đó. Bà đang ở với Chúa.

 

Mặt khác, mẹ tôi hiện là một thực tế sống động như khi bà còn sống ở đây. Cuộc đời theo Chúa của bà, vinh quang đời sống hằng ngày của bà với Ngài, đều là những thực tại có thực đối với tôi ngày nay. Cuộc sống của bà vẫn tiếp tục với tôi; nhưng đồng thời bà cũng đang ở với Chúa, nơi mà chúng tôi sẽ cùng sum họp với bà sau này. Với một mãnh lực khó tin, kinh nghiệm này về sự chết giúp tôi biết được thực tế đích thực của sự sống, sự sống đời đời mà chúng ta có được nhờ Chúa Giê-xu Christ.

 

Tôi không hề cảm thấy như thể “bây giờ mình không sống được nữa – cuộc sống đã mất hết tất cả.” Cuộc sống chẳng mất gì đối với tôi. Vào ngày Chúa nhật ngay sau đó, tôi đã có thể giảng lại tại Hội thánh mà tôi có hẹn trước, và cảm thấy đó chính là nơi mẹ muốn tôi tới. Bà muốn chúng tôi cứ tiếp tục nói cho mọi người biết về cùng một Đức Chúa Trời mà bà đã biết và yêu mến.

 

Tôi nhớ có lần mẹ gặp tôi sau khi nghe tôi nhắc đến bà như một minh họa trong bài giảng. Bà nói: “Con à, bây giờ con phải để ý một chút. Đừng có nói về mẹ trong bài giảng nữa. Chỉ nói về Chúa Giê-xu Christ thôi.”

 

Tôi yêu mẹ sâu sắc, và tình yêu chúng tôi kinh nghiệm được đã biến thành sức mạnh cho đời sống hằng ngày kể từ khi bà qua đời.

 

Có lẽ sự chết dạy chúng ta một bài học về sự quân bình của nếp sống Cơ-đốc – quân bình giữa việc biết rằng mình là những tạo vật được tái sanh trong thế giới thuộc linh, với việc biết rằng mình là những con người đang sống trong trần gian mỗi ngày. Việc chúng ta nhấn mạnh vào sự sống đời đời cùng hi vọng của chúng ta trong Đấng Christ phải bao gồm mối quan tâm thành thật muốn sống trọn vẹn tại nơi mình đang sống. Cả cuộc sống thường ngày ở trần gian lẫn thực tại vinh quang của quyền công dân thiên quốc của chúng ta đều là những sự kiện cơ bản trong Kinh Thánh. Cuộc đời của mẹ giữa vòng chúng tôi minh họa thật rõ ràng rằng cả hai điều đó đều phải được xem trọng trong nếp sống Cơ-đốc quân bình.

 

Nhờ biết được địa vị của mình với Đức Chúa Trời là chắc chắn và bảo đảm một trăm phần trăm trong Chúa Giê-xu Christ, nên bà mới có được sức sống dư dật trong thời biểu hằng ngày, dầu cho bà có sống ở đâu. Cuộc đời của bà là cuộc đời vươn lên Chúa, và cũng vươn ra những người khác đang cần đến Ngài.

 

Vợ tôi sau này tâm sự với tôi rằng nàng đã từng tự hỏi không biết cái chết của mẹ có thể nào làm chậm lại hoặc ngưng trệ toàn bộ công việc hay không.

 

Rồi nàng mỉm cười, nói tiếp: “Nhưng trong lòng em vẫn biết là sẽ không như vậy đâu, Paul à.”

 

     Kỳ tới:     Chương X: Những thách thức mới.

 

Nếu các bạn muốn đọc những chương trước, xin liên hệ vuian@hotmail.com. Thân ái.


Họ và tên (*) Email (*)
Hiển thị email
Nội dung
 

Tháp Vĩnh Cửu: Chương XIII - Nước Đức đi đầu Các nhân viên giỏi giang của phòng soạn chương trình tại...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương XII - Sẳn sàng đến Monte Carlo Trong năm xây dựng và chuẩn bị tại Monte Carlo, vợ chồng...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương XI - Phép lạ tại MONACO tôi tự hỏi tại sao chúng ta lại thấy khó tin mỗi khi một...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương X - Những thách thức mới Tiếp theo là giọng ba tôi: “Paul à, Đức Chúa Trời đã làm...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương VIII - Đài tiếng nói Tangier Tôi thường thấy rằng Đức Chúa Trời sẽ đưa người tín đồ hầu...
Tháp vĩnh cửu: Chương VII - Trở lại khu rừng thông “Điều quan trọng không phải là chúng ta đã bỏ ra bao nhiêu...
   Đăng nhập | Đăng ký