Tháp Vĩnh Cửu: Chương X - Những thách thức mới

Một trong những điều mẹ tôi muốn đó là tôi sẽ có bằng tiến sĩ. Chẳng phải là tôi không muốn lấy bằng này, nhưng có một điều khác lúc nào cũng chiếm chỗ ưu tiên hàng đầu trong kế hoạch của tôi. Giờ thì mẹ đã ra đi, ký ức về ao ước của bà đối với tôi tạo nên động lực mà tôi cần để đẩy nhiệm vụ này lên đầu bảng danh sách. Tuần lễ sau khi bà qua đời, tôi bắt đầu cho lăn bánh và đã thực sự tham dự một trong những kỳ thi lớn nhất trong chương trình học lên tiến sĩ của tôi.

 

Trường School of Education tại Đại học New York giúp làm sáng tỏ luận án của tôi liên quan đến ba ngành học: bang giao quốc tế, truyền thông đại chúng, và giáo dục tôn giáo. Tựa đề dài dòng và hơi rối rắm: “Nghiên Cứu Về Phạm Vi Của Những Mục Tiêu Mà Các Chương Trình Phát Thanh Tôn Giáo Do Hoa Kỳ Sản Xuất Được Soạn Để Phát Sóng Tại Châu Âu Sẽ Đạt Được Theo Ý Kiến Của  Giới Lãnh Đạo Tôn Giáo Tại Pháp, Đức Và Tây Ban Nha.”

 

Nhiều tín đồ nói với tôi rằng Cơ-đốc nhân không thể theo học đại học thế tục nếu không chịu thỏa hiệp vai trò chứng nhân của mình. Họ nói không thể nào thực sự đứng về phía Đấng Christ trong giảng đường đại học được. Kinh nghiệm cá nhân của tôi tại Đại học New York buộc tôi phải vội vàng binh vực những người bảo trợ tôi tại đây. Điều kiện đã sẵn có, và người trí thức Cơ-đốc, cũng như người theo phái bất khả tri, cần phải đủ tư cách trước khi được công nhận là nhà nghiên cứu chân thật. Tuy nhiên, nếu một người thực sự nghiên cứu hợp lý để lấy bằng cấp, nếu người ấy chịu khẳng định chính xác tiền đề của mình, nếu người ấy ngay thật về những phân định ranh giới của công trình cùng việc nghiên cứu mình đã thực hiện, nếu người ấy chịu thận trọng xác định đầy đủ những điều kiện của mình, nếu người ấy có kiến thức để bảo vệ luận án của mình, thì người sẽ có được sự tôn trọng về mặt học thuật từ những người trong ngành, bất chấp niềm tin của người ấy là gì. Cho nên điều đòi hỏi duy nhất nơi chúng ta chính là chúng ta phải theo đúng thủ tục khoa học thông thường, dùng những văn kiện chứng minh có cơ sở, và có những mẫu mực tư duy hợp lý.

 

Tại đại học này tôi thấy mình có thể khởi đầu rất tốt với tiền đề cho rằng, Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời. Đại đa số những người ở đây không tin như vậy; nhưng với tư cách một học giả, tôi hoàn toàn có quyền khẳng định điều này là một trong những tiền đề của mình. Bước học thuật đầu tiên trong một luận án chính là giải thích một số tiền đề và phạm vi ranh giới, định nghĩa một số từ ngữ. Và sau khi thực hiện xong những điều đó, thì trường đại học chờ đợi những thủ tục và kết luận hợp lý từ những tiền đề cơ bản. Tôi thấy những người biết suy nghĩ thì không chỉ trích hoặc xem thường công việc của chúng ta. Họ không có cơ sở để cho là chúng ta bất hợp lý một khi chúng ta đã bắt đầu với một tiền đề được giải thích rõ ràng rằng có một Đức Chúa Trời, và Kinh Thánh là Lời Ngài phán với con người.

 

Hai năm rưỡi học tập và khảo cứu để lấy bằng tiến sĩ đã giúp chúng tôi trong việc chuẩn bị mở rộng công việc sang lục địa Âu châu. Những chỉ dẫn chính từ luận văn của tôi cung ứng thông tin hữu dụng trong việc lập chương trình phát thanh truyền giáo của chúng tôi. Một điều kiện quan trọng nổi bật lên trên tất cả trong khi tôi lập bảng kê và đánh giá những kết quả khảo cứu của mình. Những mẩu ý kiến ngẫu nhiên được thâu băng, được đưa ra trực tiếp, qua câu hỏi điều tra, với những nhóm đại diện dân bản địa, qua việc nghe những gì đang được phát thanh cho chín trung tâm chính tại châu Âu – tất cả đều cho thấy rõ một yếu tố quan trọng để thành công trong việc truyền thông. Chương trình phát thanh phải gắn liền với kinh nghiệm sống hằng ngày, với cuộc sống đời thường, với nan đề mỗi ngày. Chìa khóa của nếp sống Cơ-đốc không nhất thiết phải là sự xuất hiện ngoạn mục của Đức Chúa Trời trong bụi gai cháy, mà là sự hiện diện lâu dài của Ngài giữa những thất vọng, những tranh chiến, những niềm vui của gia đình, của sở làm, của cửa tiệm, của xưởng đúc, của đấu trường thể thao. Giáo lý đúng đắn trong những chương trình của chúng tôi là thiết yếu để làm nền tảng, nhưng chúng tôi cũng muốn bảo đảm cung ứng những chỉ dẫn để người ta sống cuộc đời Cơ-đốc nữa.

 

Trong thời gian làm luận văn tại Đại học New york, tôi có liên lạc thư từ với ông Bosio và ghé qua đài ở Monte Carlo vài lần để tiếp tục thương lượng mở rộng chương trình. Đôi lúc tôi tự hỏi không biết toàn bộ công việc có là lãng phí thì giờ hay không. Chúng tôi đang hoạt động tốt tại Tangier vào lúc đó. Thật ra, đang khi diễn ra các cuộc thảo luận với đài Monte Carlo, chúng tôi suýt đi tới việc lập kinh phí thực sự để mở rộng những phương tiện tại Tangier. Bây giờ, khi nhìn lại thì rõ ràng là nơi mà chúng tôi đáng phải bươn tới với những kế hoạch mở rộng của mình thì chính tại đó chúng tôi lại cảm thấy muốn chậm bớt lại. Chúng tôi đang bàn tính mua thêm đất và gắn hệ thống ăng-ten lớn hơn. Nhưng Đức Chúa Trời đã kéo chúng tôi chậm lại.

 

Bỗng nhiên Ma-rốc được độc lập và bức tranh chính trị bắt đầu thay đổi nhanh chóng. Một thông báo từ chính phủ khiến sự trì hoãn của chúng tôi tại Tangier trở nên hoàn toàn rõ ràng: mọi hoạt động phát thanh trong nước đều phải bị quốc hữu hóa vào cuối năm 1959. Lúc này là tháng tư. Tình hình có vẻ như thật đen tối khi ban điều hành tại Tangier nghe tin vào lúc đầu. Ba tôi đọc thông báo của chính phủ cho nhóm cầu nguyện chiều thứ tư. Thật là một cú giáng choáng váng, nhưng chẳng một người nào nói: “Thôi thì có lẽ chúng ta phải về nhà vậy.”

 

Tất cả chúng tôi biết rằng bên kia eo biển có vô số máy thu thanh –ước lượng khoảng 80.000.000 cái vào thời đó. Và chúng tôi biết rằng không có đài phát thanh Phúc âm nào hoạt động toàn thời gian trên đất Âu châu. Cho nên chúng tôi chờ đợi Đức Chúa Trời hành động. Chúng tôi dốc lòng cầu nguyện; những ngày căng thẳng đó đầy ắp những tình cảm xúc động và chờ mong.

 

“Lạy Chúa, Ngài đang dành cho chúng con điều gì đây? Nếu Ngài đóng cửa này, xin chỉ cho chúng con biết Ngài muốn chúng con làm gì tiếp theo.” Cả nhóm đều đồng thanh cảm nhận được rằng Đức Chúa Trời sẽ mở một cơ hội phát thanh khác.

 

Khi thông báo của chính phủ Ma-rốc tới trụ sở trung ương chúng tôi tại Chatham, New Jersey, chúng tôi cảm thấy như thể tất cả đều sụp đổ. Nhưng Chúa lại nhanh chóng quay chúng tôi sang một hướng khác. Trong vòng hai mươi bốn tiếng, tôi đáp chuyến bay từ New York tới Monte Carlo. Chúng tôi không có được bảo đảm cụ thể nào về bất kỳ điều gì đang diễn ra ở đó, và tôi sẽ không đẩy mạnh để có được hợp đồng sớm hơn, dù là có khả năng. Tất cả mọi người đang công tác trong vòng chúng tôi đều cảm nhận chắc chắn trong lòng rằng chúng tôi chỉ vừa mới khởi đầu thuận lợi trong việc phát thanh Phúc âm thôi, và chúng tôi tin chắc một cách kỳ lạ rằng Chúa sẽ thực hiện môt điều gì đó vì cớ chúng tôi. Tìm cho ra một nơi tại châu Âu châu để có thể dựng một máy phát sóng cho việc phát thanh Cơ-đốc toàn thời gian có vẻ là việc làm khó nhất trong lãnh vực phát thanh. Nhiều nhà lãnh đạo Cơ-đốc khác cũng thấy rõ điều này. Tất cả những châu lục khác đều đã có những máy phát sóng như vậy, nhưng Âu châu – với mật độ máy thu thanh cao nhất ngoài nước Mỹ – thì lại chưa có đài nào. Chúng tôi đã tìm hiểu nhiều nơi tại châu lục để kiếm chỗ đặt đài mới, nhưng theo như tôi được biết thì Monte Carlo thực sự là khả năng duy nhất.

 

Trong những lần thương luợng đầu tiên của chúng tôi tại đó, nhu cầu đài phát thanh chưa cấp bách. Vào lúc nhu cầu trở thành cấp bách, thì Monte Carlo đã quyết định. Ngay tại điểm khủng hoảng của chúng tôi, họ sẵn sàng đề cập cụ thể những điều khoản của hợp đồng. Vâng, Đức Chúa Trời đã ngăn trở việc mở rộng ”Đài Tiếng Nói Tangier” một thời gian vì Ngài có một ý định lớn hơn trong kế hoạch tổng quát của Ngài. Ngài không muốn chúng tôi phung phí sức lực hoặc tiền bạc của Ngài để mở rộng một dự án mà phải chấm dứt trong nay mai. Đức Chúa Trời có cách định thời điểm thật diệu kỳ trong mọi sự!

 

Tôi đã có thể tái tục lại ngay những thương lượng tại Monaco và xúc tiến mọi việc với lòng tin tưởng mãnh liệt. Vào tháng tư năm 1959 thì khi chúng tôi bắt đầu đề ra những kế hoạch vững chắc để có được quyền hoạt động của Đài Phát thanh Monte Carlo. Ba tôi và tôi cầu nguyện thật nhiều cho những dàn xếp giữa chúng tôi với ban giám đốc của đài, và cuối cùng – sau khi cân nhắc kỹ lưỡng – chúng tôi quyết định ứng trước cho họ 50.000 Mỹ kim. Chúng tôi không biết mình sẽ kiếm đâu ra khoản đó, nhưng cảm thấy nếu hứa ít hơn thì sẽ khiến họ thấy bị xem thường.

 

Tuy nhiên, khi tôi nói chuyện với ông Bosio, thì ông hỏi: “Ông có muốn ban giám đốc chấp thuận hợp đồng này không? Ông có thể đặt trước bao nhiêu tùy ý, ông biết đó. Nhưng nếu ông thực sự muốn việc này được thông qua thì có lẽ ông nên chuẩn bị ứng trước một khoản bao trọn toàn bộ chi phí lắp đặt. Vậy là khoảng nửa triệu Mỹ kim. Tôi nghĩ đó là cách duy nhất để họ chấp thuận hợp đồng.”

 

Dường như ông Bosio cố gắng giúp chúng tôi hiểu được tầm quan trọng của việc đề nghị một khoản tiền hấp dẫn đối với ban giám đốc – một đề nghị mà họ sẽ không ngần ngại chấp nhận. Ông nhắc khéo rằng đó sẽ là cơ hội ngàn năm một thuở, không nắm lấy là mất trắng.

 

Chúng tôi được biết ban giám đốc đã tính chi tiết những khoản phí lắp đặt của hệ thống ăng-ten lớn với máy phát sóng 100.000 oát mà chúng tôi sẽ cần tới. Chúng tôi không có con số chính xác, nhưng ông Bosio đã ước tính tổng số tiền sẽ là khoảng nửa triệu đô-la. Chúng tôi cũng biết là ban giám đốc sẽ không sẵn sàng đầu tư bằng ngân quỹ riêng của họ. Tất cả đều sẽ phải do nhóm nhỏ chúng tôi đài thọ. Ông Bosio đề nghị chúng tôi phân tổng số tiền thành sáu lần trả góp, lần trả thứ nhất là ngay lúc họ chấp thuận dự án. Năm lần kia sẽ trả trong vòng một năm trong quá trình lắp đặt máy phát và ăng-ten.

 

Theo dự kiến thì còn một tháng nữa là tới kỳ họp ban giám đốc, và chúng tôi cảm thấy như thể mình đang lên cung trăng. Ngay cả con số một phần sáu là 83.000 đô-la để đặt cọc nghe cũng đủ hoang tưởng rồi!

 

Trong khi lúc đầu tất cả chúng tôi lúc đầu đều phấn khích với khả năng dời hoạt động phát thanh về Monte Carlo, thì phản ứng lần này của chúng tôi lại khác hẳn. Một đợt sóng kinh hoàng đập vào tôi, và tôi thực tình không biết mình có mất trí hay không. Trong khi chúng tôi đang phác thảo hợp đồng, thì tôi và ba tôi dành hàng giờ để trao đổi và cầu nguyện. Chúng tôi phải “đập khi sắt còn nóng,” và chúng tôi chẳng còn ai để nhờ cậy, ngoại trừ Đức Chúa Trời. Thảo luận vấn đề cách công khai hoặc thậm chí với những cá nhân khác sẽ gây hại lớn cho khả năng hoàn tất hợp đồng. Việc thảo ra từng chi tiết và quyết định đã đem bố con tôi lại gần nhau và gần Chúa hơn. Nhưng nửa triệu Mỹ kim thì nghe hầu như vô vọng!

 

Ông Stanley Clark, một giám đốc của ngân hàng Barclay cho toàn vùng Trung Đông, từng là bạn thân với ba mẹ tôi suốt nhiều năm. Tuy không thể giúp tài chánh cho dự án Monte Carlo, nhưng ông là niềm khích lệ lớn cho chúng tôi khi chúng tôi đưa vào hợp đồng những khoản phí gấp mười lần số chúng tôi đã dự kiến – chỉ bằng đức tin. Ông Clark ủng hộ chúng tôi một trăm phần trăm, giúp cố vấn, đưa chúng tôi tiếp xúc những người có thể giúp đỡ chúng tôi, ngay cả gặp gỡ một số viên chức thay cho chúng tôi. Là một chức sắc nước Anh có nếp sống làm chứng gương mẫu thuộc nhóm Plymouth Brethren, ông Clark đã từng được chỉ định làm chủ tịch Hội nghị Quốc tế của Liên hiệp quốc (United Nations International Conclave) tại Israel. Ông thường được cử tiếp đón và chiêu đãi những nhân vật như hoàng đế Haile Selassie cùng phu nhân tại nhà riêng, nhưng ông có vẻ rất thoải mái với chúng tôi. Ông không ngừng cho chúng tôi thấy sự hiệu quả của một đời sống thực sự hiến dâng cho Chúa. Nếp sống của ông là sự thể hiện bằng hành động hằng ngày của đức tin cá nhân.

 

 Cùng lúc đó giới thẩm quyền tại Monte Carlo yêu cầu hợp đồng đã đề nghị phải được giữ kín trong khi chờ đợi, họ cũng yêu cầu đặt cọc 83.000 đô-la mà đối với chúng tôi, nghe như  thể là 83.000.000 đô-la vậy!

 

Hợp đồng là một thử nghiệm khe khắt đối với những ý định cùng khả năng hoàn tất các nghĩa vụ tương lai của chúng tôi. Thiết bị mà họ phải lắp đặt hoàn toàn thuộc về Đài Phát thanh Monte Carlo, nhưng họ lại không tài trợ. Vì vậy, hợp đồng xác định  rằng chúng tôi phải trả nửa triệu – tổng chi phí của việc lắp đặt ứng trước. Điều này cho chúng tôi được sử dụng các phương tiện phát thanh toàn thời gian trong mười năm với số lần gia hạn không hạn chế. Vốn đầu tư ban đầu sẽ được tính như là chi phí thuê mướn và hoạt động.

 

Đây quả là điều khắc nghiệt! Một luật sư Thụy Sĩ, khi kỹ lưỡng xem xét hợp đồng, đã nổi giận cho tới khi chúng tôi giải thích rằng không phải Đài Phát thanh Monte Carlo đến yêu cầu chúng tôi cộng tác với họ tại Monaco, mà là ngược lại. Đây là đài phát thanh duy nhất trên toàn châu Âu chịu cứu xét cho chúng tôi đặc quyền phát thanh Phúc âm toàn thời gian – với bất cứ giá nào. Đó là sự thật vào tháng tám 1959 khi chúng tôi đang soạn thảo hợp đồng. Cho tới ngày nay cũng vẫn đúng là như vậy. Vì cớ chúng tôi tha thiết cần cơ hội được phép hoạt động, cho nên việc chấp nhận bảng giá đính kèm thật cao cũng là điều hợp lẽ.

 

Hồi trước, có lần ba mẹ tôi đi Anh viếng thăm Keswick với vài bạn người Anh. Trong thời gian này mẹ tôi bị viêm phế quản; sau đó lại viêm phổi, phải vào bịnh viện Luân Đôn. Đó là thời gian  thử thách đối với ba tôi, ông thắc mắc không hiểu tại sao kế hoạch của mình bị thay đổi và ngày về lại Tangier bị trễ khoảng sáu tuần. Một chiều nọ, chán nản và sốt ruột, ông tự nhủ: “Sao mình không thử nghe ‘Đài Tiếng Nói Tangier’ xem sao?” Ông cắm điện cho chiếc ra-đi-ô cũ kỹ và ngồi xuống sau bữa ăn tối để dò chương trình phát thanh bằng Anh ngữ. Khi nghe điệu nhạc cùng giọng nói quen thuộc, ông thích thú đến nỗi chạy ra sảnh đường nhà nghỉ truyền giáo, kêu gọi: “Vào đây nghe này!”

 

Khoảng hai mươi người chạy vào. Trong số đó có một tín đồ trẻ người Na Uy qua Anh Quốc học và trau dồi tiếng Anh.

 

Anh rất chú ý chương trình phát thanh và hỏi: “Các ông nghĩ là có thể sắp xếp để phát thanh sang Na uy được không? Ở Na uy chúng tôi chỉ có đài phát thanh của nhà nước thôi. Đây là ý tưởng hấp dẫn – chương trình phát thanh như thế này có thể nghe được trong xứ chúng tôi.”

 

Ba tôi đáp: “Sao lại không!”

 

“Vậy sao mình không làm?”

 

“Vì chúng tôi cần có người biết soạn chương trình và chuyển ngữ. Và chúng tôi cũng cần có người giúp chi phí phát sóng nữa.”

 

“Tôi nghĩ là tôi biết đúng người quan tâm chuyện này.”

 

“Được thôi, cho tôi tên và địa chỉ đi, tôi sẽ viết thư cho người ấy.”

 

Bước nọ dẫn tới bước kia, giúp chúng tôi tiếp cận được những người đi đầu trong phong trào hoạt động tích cực của những tín đồ thường ở Na uy: ông Vaagen, ông Eikli, và ông Haanes cùng với con trai là Leif. Mối quan tâm nhiệt thành của họ trong việc phát thanh Phúc âm đã cho chúng tôi lời giải đáp về lý do cho sáu tuần chậm trễ tại Luân Đôn. Tiện nghi rất tồi tệ – bị gió lùa và lạnh lẽo, nhưng mẹ tôi không hề nao núng, cứ khăng khăng cho rằng Chúa có mục đích trong việc này. Câu chuyện tiếp theo cho thấy mục đích này đã trở nên rõ ràng ra sao.

 

Giữa việc soạn thảo hợp đồng với cuộc họp của ban giám đốc là chưa đầy một tháng. Theo lịch, vào thời gian này, tôi phải đi Nga chuyến đầu tiên để đích thân xem có thể làm được gì qua việc phát thanh Phúc âm cho xứ này. Trên đường đi tôi ghé qua Oslo và gặp những người Na Uy đã từng náo nức vì đài “Tiếng Nói Tangier” dạo hè năm trước.

 

Tôi được mời đến nhà ông bà Vaagen. Tối đó một vài người bạn, kể cả gia đình Haanes, họp lại cầu nguyện. Ông Haanes, chủ một công ty đóng tàu thật lớn cùng một số doanh nghiệp thành công khác, là một tín đồ yêu mến Chúa. Tôi cũng được biết rằng trước khi đám cưới, bà Haanes đã từng là giáo sĩ cho châu Phi, một bối cảnh khiến họ càng quan tâm sâu sắc đến việc truyền giảng Phúc âm. Con trai của họ là Leif cũng là thành phần trong nhóm cầu nguyện.

 

Mối thông công cầu nguyện của chúng tôi thật đơn sơ và ngọt ngào. Họ cầu xin Đức Chúa Trời ở cùng tôi khi tôi sang Liên Xô. Điều đặc biệt quan trọng đối với tôi là đây sẽ không phải chỉ là chuyến đi ngắm cảnh. Tôi chưa bao giờ cảm nhận được quyền năng Đức Chúa Trời trọn vẹn hơn hoặc biết chắc Ngài sẽ hoàn thành mục đích riêng của Ngài cách đầy đủ hơn là tôi cảm nhận tối hôm đó. Tôi cảm thấy chắc chắn Đức Chúa Trời hướng dẫn tôi tỏ cho họ biết ngay lúc đó về khả năng của Monte Carlo, và yêu cầu họ đừng nói gì với ai về điều đó.

 

Đây là những con người đầy thế lực, tài năng, yêu mến Chúa và đặt Ngài lên  hàng đầu trong cách sống của mình. Giữa vòng Giáo hội Lutheran tại Na Uy, Đức Chúa Trời đã âm thầm làm việc, cảm động người này, người kia. Sự thức tỉnh thuộc linh trong đời sống nhiều người tín đồ thường đã tạo nên một cộng đồng tín hữu có mối ưu tư đặc biệt tại Na Uy. Đến thời điểm đó, đã có khoảng 2.000 nhà cầu nguyện được lập ra để cầu nguyện và học Kinh Thánh. Việc Đức Chúa Trời mở trí và lòng họ đã khiến họ nhạy bén hơn trước những cơ hội phục vụ có thể tận dụng để giảng Phúc âm cho người khác. Mặc dầu họ đang bảo trợ một số dự án truyền giáo ở nước ngoài, nhưng họ cũng lưu tâm đến gánh nặng phát thanh mà tôi chia xẻ với họ. Ở dưới phố Oslo hiện nay họ có một tòa nhà trụ sở điều hành mọi nhà cầu nguyện cùng dự án truyền giáo. Tôi chưa bao giờ cảm nhận được sự hiện diện của Chúa gần gũi hơn điều tôi cảm nhận được tối hôm đó tại Oslo khi cùng cầu nguyện với các thành viên trong Phong trào của Người Tín đồ thường Na uy (the Norwegian Laymen’s Movement).

 

Nhóm cầu nguyện nhỏ người Na Uy, người bạn Đức Hermann Schulte, cùng khoảng năm người khác ngoài gia đình chúng tôi là những người duy nhất biết về thách thức mới to lớn của chúng tôi. Giới thẩm quyền tại Monte Carlo đã yêu cầu chúng tôi đừng công khai hóa những cuộc thương lượng và chúng tôi cũng thấy thiếu khôn ngoan nếu làm như vậy, cho nên chúng tôi không công khai phổ biến nhu cầu của mình. Thật ra chúng tôi còn phải làm ngược lại – chúng tôi có đặc quyền kỳ diệu là chỉ cần an nghỉ trên lời cầu nguyện trong suốt tháng chiến lược đó.

 

Vào khoảng cùng thời gian đó, tháng chín 1959, chúng tôi quyết định mở một văn phòng cho chương trình Phát thanh Xuyên Thế giới trên lục địa Âu châu. Chúng tôi mời hai nhân viên tương đối mới, đó là vợ chồng Burt và Sonja Reed, cùng đi với ba tôi để mở văn phòng tại Beatenberg. Các mục tiêu đã rõ: thứ nhất, chúng tôi cần ngưng sử dụng căn cứ hoạt động tại Tangier làm trụ sở; thứ nhì, chúng tôi muốn đặt nền tảng cho hoạt động phát thanh tại Monte Carlo.

 

Công việc ba tôi đã làm tại Tangier thật thiết yếu đối với tính hiệu quả cho những buổi phát thanh của chúng tôi. Tuy nhiên, việc soạn chương trình,  việc theo dõi chăm sóc, điều phối số nhân viên mỗi lúc càng gia tăng khiến còn ít thời gian cho một mặt cực kỳ quan trọng của dự án tổng quát – đó là liên lạc với giới lãnh đạo Tin lành tại tất cả các vùng đất mục tiêu ở châu Âu. Đây là giấc mơ  cho tới nay vẫn chưa  thực hiện được là bao.

 

Hai tuần sau khi tới Beatenberg cùng với gia đình Reed, ba tôi đi Monaco để gặp ban giám đốc đài Monte Carlo. Điều không thể đã xảy ra! Món tiền 83.000 Mỹ kim đang nằm chờ ở đó! Sau buổi cầu nguyện tại Oslo, gia đình Haanes quyết định rằng Đức Chúa Trời muốn chính họ tự thực hiện bước đầu này. Họ vét sạch tài khoản ngân hàng và gom góp được số tiền phép lạ này ủng hộ cho Đài Phát thanh Xuyên Thế giới. Người con trai là Leif Haanes từ Na Uy tới nơi với món quà và có mặt để ký vào hợp đồng.

 

Stanley Clark cũng đến với đài để giúp vào việc giao dịch. Là một con người đặc biệt với khải tượng và khát vọng, ông đã từng lấy làm ngạc nhiên nhìn thấy bước đi đức tin của chúng tôi trong việc dời hoạt động tới Monte Carlo. Nhưng ông Clark đã quen bạo dạn đứng ra với đức tin để thực hiện những kế hoạch hành động riêng của mình, cho nên ông sẵn sàng ủng hộ hết mình chúng tôi trong buổi họp với ban giám đốc.

Vào lúc này, tôi đã từ chuyến thăm dò nước Nga trở về Chatham, và đang trông tin của ba tôi qua điện thoại.

 

Vào buổi sáng gặp gỡ ban giám đốc đài Phát thanh Monte Carlo, ba tôi, ông Clark, và Leif Haanes họp nhau cầu nguyện. Sau đó, họ lên núi xem qua các thiết bị. Đài đã được xây dưới thời chế độ Đức quốc xã để làm phương tiện tuyên truyền. Đó là một cấu trúc vĩ đại, đẹp đẽ, đồ sộ, bằng đá – vừa mới hoàn tất nhưng chưa lắp đặt thiết bị nào vào cuối cuộc chiến thì người Đức trở về nước. Thực sự là tôi cảm thấy ớn lạnh xương sống khi nghĩ đến Phúc âm sẽ được giảng ra hằng ngày từ chính công trình mà Adolph Hitler đã dựng lên nhằm tuyên truyền cho Đức quốc xã.

 

Trong khi ba người trong nhóm đang ở độ cao 2500 bộ (khoảng 760 mét) so với thành phố xem xét các thiết bị phát sóng thì ông Bosio gọi điện cho ba tôi ở đó.

 

“Có tin mừng cho anh! Tôi sẽ không chính thức báo cho anh biết đâu, vì ông Solamito, giám đốc của chúng tôi, phải phải đích thân thông báo cho anh. Nhưng tôi chắc là anh có thể đoán được. Ông ấy muốn gặp anh ngay bây giờ.”

 

Sáng hôm sau, cuộc giao dịch thực sự diễn ra và Leif Haanes – cùng với ba tôi bên cạnh – trao ngân phiếu 83.000 Mỹ kim để đặt cọc vào tài khoản của Đài Phát thanh Monte Carlo.

 

Lúc điện thoại reo, tôi đang trong phòng làm việc ở nhà. Tôi cảm thấy tim muốn vỡ tung vì xúc động trong lòng. Tôi nín thở như thể sắp nghe tiếng Đức Chúa Trời. Tiếp theo là giọng ba tôi: “Paul à, Đức Chúa Trời đã làm việc này!”

 

     Kỳ tới:     Chương XI: Phép lạ tại Monaco.

 

Nếu các bạn muốn đọc những chương trước, xin liên hệ vuian@hotmail.com. Thân ái.

 

 

 


Họ và tên (*) Email (*)
Hiển thị email
Nội dung
 

Tháp Vĩnh Cửu: Chương XIII - Nước Đức đi đầu Các nhân viên giỏi giang của phòng soạn chương trình tại...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương XII - Sẳn sàng đến Monte Carlo Trong năm xây dựng và chuẩn bị tại Monte Carlo, vợ chồng...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương XI - Phép lạ tại MONACO tôi tự hỏi tại sao chúng ta lại thấy khó tin mỗi khi một...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương IX - Được thăng tiến
Tháp Vĩnh Cửu: Chương VIII - Đài tiếng nói Tangier Tôi thường thấy rằng Đức Chúa Trời sẽ đưa người tín đồ hầu...
Tháp vĩnh cửu: Chương VII - Trở lại khu rừng thông “Điều quan trọng không phải là chúng ta đã bỏ ra bao nhiêu...
   Đăng nhập | Đăng ký