Tháp Vĩnh Cửu: Chương XII - Sẳn sàng đến Monte Carlo

Trong năm xây dựng và chuẩn bị tại Monte Carlo, vợ chồng chúng tôi quyết định rằng tốt nhất là chúng tôi nên dọn sang châu Âu. Một số bạn bè cảm thấy cần phải nói cho chúng tôi biết dọn nhà như vậy là tốn kém khủng khiếp; nhưng tôi lại kinh nghiệm điều ngược lại. Tôi có thể đã không thể ở lâu như vậy nếu không nếu không đem gia đình cùng đi. Ở chung với gia đình sẽ giúp tôi tập trung thoải mái hơn vào công việc đang làm. Vợ tôi có thể ở bên cạnh tôi trong tình yêu, thông cảm và cầu nguyện. Bọn trẻ được theo dõi từng bước của quá trình xây dựng. Và cả gia đình được cùng đi với tôi tới nhiều “quốc gia mục tiêu” – toàn bộ sáu người chúng tôi trong chiếc Volkswagen nhỏ bé.

 

Một trong những điều ý nghĩa nhất thời thơ ấu của tôi ấy là ba mẹ tôi sẵn sàng cho em gái tôi và tôi cùng dự phần trong mọi lãnh vực của đời sống họ. Khuôn mẫu đó đang được lặp lại ở mức tối đa trong gia đình tôi. Tôi muốn các con mình không chỉ nhớ giờ đọc Kinh Thánh và cầu nguyện của gia đình, mà còn nhớ các sinh hoạt khác nữa, như chơi bóng, câu cá, bơi lội, du lịch, làm việc, thả bộ – làm mọi thứ cùng với nhau. Chúng tôi rất cởi mở với gia đình.

 

Dù nghe như thể tôi đi khá nhiều và chịu trách nhiệm nhiều buổi hội họp, nhưng tôi đã chủ ý sắp xếp thời khóa biểu sao cho khỏi vắng nhà lâu ngày. Đôi khi cũng khó cho người khác hiểu con cái quan trọng thế nào đối với tôi. Chẳng hạn, khi một Hội thánh mời tôi đến dự một loạt cái buổi nhóm liên tục, tôi thường trả lời: “Tôi có thể tới vùng của các ông vài buổi tối, nhưng sau đó cần phải về nhà.” Dĩ nhiên họ biết nếu tôi đến ở suốt kỳ thì ít tốn kém hơn. Nhưng tôi phải trả lời cách lý luận đó như sau: “Các ông không thể mua giá trị cuộc đời của những đứa con tôi!”

 

Nếu có ai gọi điện thình lình hoặc từ Los Angeles tới trong lúc tôi đang ăn tối ở nhà, thì tôi phải hành động theo cách cho thấy rằng tôi xem buổi hẹn với gia đình cũng quan trọng ngang bằng với bất cứ cuộc hẹn nào khác trong công việc.

 

Tôi tin rằng người cha Cơ-đốc có bổn phận và đặc quyền hiếm có là phải dành thì giờ cùng sức lực để gần gũi và tìm hiểu con cái mình. Từ cậu con trai thiếu niên 18 tuổi cao hơn một mét tám là Paul David, với khả năng thể thao và lãnh đạo thực sự, cho tới đứa con trai út 5 tuổi cao hơn một mét là Daniel Herbert, chúng tôi đều chia xẻ sở thích, chuyện trò, học hỏi với nhau. Với cô con gái duy nhất là Donna Jean 16 tuổi, và hai cậu bé còn lại là James Philip 14 tuổi và Stephen Ernest 11 tuổi cũng vậy.

 

Vợ chồng chúng tôi cám ơn Chúa vì mỗi đứa con đều đã tiếp nhận Chúa Giê-xu Christ làm Cứu Chúa một cách cá nhân, ngoại trừ Danny, mới 5 tuổi. Tôi trông mong và tin rằng chúng sẽ sống cho Ngài; nhưng nói thật, tôi không biết Ngài có chương trình gì cho mỗi đứa trong nghề nghiệp của chúng. Tôi sẽ không quá sửng sốt nếu chúng chọn làm công việc khác với việc phát thanh. Nhưng dĩ nhiên, tôi sẽ rất vui nếu chúng quyết định chỗ đứng của mình là trong hoạt động phát thanh truyền giáo. Tôi phải công nhận mình cũng là con người như bao nhiêu người khác! Tôi cho rằng mình có ý muốn đưa các con qua châu Âu năm đó là để chúng có cơ hội nhìn thấy công việc như thế nào. Nhưng chúng tôi sẽ cảm thấy hài lòng nhìn thấy con mình đảm trách hầu như bất cứ công việc nào mà đời sống chúng làm vinh hiển Chúa. Tôi mạnh mẽ tin rằng truyền giảng Phúc âm là một công tác toàn diện phải được thực hiện toàn thời gian bởi toàn bộ tập thể tín hữu bất chấp họ làm nghề gì. Một trong những lý do khiến tín đồ chúng ta trong Hội thánh không kết quả trong thế gian ấy là vì chúng ta đã hạn chế chức vụ này cho một số ít người gọi là tôi tớ Chúa.

 

Chương trình phát thanh tại Tangier tiếp diễn cho tới ngày 31 tháng mười hai, 1959, dù chúng tôi đã có một ban phụ trách nòng cốt tại Monte Carlo hầu như kể từ ngày ký hợp đồng vào tháng chín trước đó. Kế hoạch chính của Đài Phát thanh Xuyên Thế giới mới hình dung ra tám vùng mục tiêu cho các chương trình phát thanh: 1) Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha; 2) Quần đảo Anh; 3) vùng Scandivania; 4) Liên Xô; 5) các nước cộng sản chư hầu; 6) Trung Âu; 7) Nam Âu; 8) Trung Đông và Bắc Phi.

 

Chúng tôi có ý định xây hệ thống hạng nhất để những buổi phát sóng từ Monte Carlo có thể được điều chỉnh nhắm tới các quốc gia mục tiêu này. Chúng tôi có được vị trí chiến lược thật cao trên những dốc đứng của dãy Alps phía nam, nhìn xuống Địa Trung Hải. Từ đó, càng tập trung phát sóng đúng hướng, chúng tôi sẽ càng có thể thâm nhập từng vùng ngôn ngữ trên hữu hiệu hơn.

 

Hệ thống ăng-ten của chúng tôi tại Tangier rất đơn giản nên chúng tôi không thể điều khiển chương trình của mình được hữu hiệu như ý muốn. Bây giờ, tại Monte Carlo, chúng tôi nhân lên hơn bốn lần công suất phát sóng, và dựng được những ăng-ten màn phức tạp, với những tháp khung thép lớn cao tới 175 bộ (khoảng 53 mét – ND). Mỗi ăng ten của Monte Carlo sẽ bao gồm bốn tháp, với “màn” hoặc mạng lưới dây kim loại, treo lơ lửng giữa hai cặp tháp. Một vật phản quang làm bằng dây kim loại hoạt động như tấm gương soi, khiến phần lớn công suất cùng qui về một hướng, ngăn ngừa thất thoát ra sau. Các ăng-ten của chúng tôi được sắp xếp theo kiểu hình tròn với lý do đơn giản là các vùng mục tiêu của chúng tôi tính từ đài ra nằm theo hình gần như vòng tròn.

 

Trong lúc xây dựng ăng-ten, thỉnh thoảng công nhân phải đương đầu với những thử thách khắc nghiệt. Từ lâu trước lúc khởi công xây dựng, chúng tôi đã biết rằng một việc làm cho Đức Chúa Trời có tầm cỡ quy mô như thế sẽ không thoát khỏi sự chú ý của Sa-tan. Mọi thứ  đều phải vận chuyển lên đỉnh núi Agel, từng phần một. Hai mươi mốt tháp phải xây, nặng trên chín mươi tấn kim loại, và khi hoàn tất, chúng sẽ chiếm một phần khá lớn khu đất kế cận tòa nhà phát sóng. Một hôm, khi các công nhân chuyển phần nọ tới phần kia trong gió tuyết, một người trong họ đã để da thịt của mình dính vào kim loại giá lạnh. Suốt mùa đông, ngay cả trong vùng Riviera ngập nắng, thì vùng núi cũng lạnh buốt. Một lần khác, một trong những xe tải chạy chệch ra khỏi đường, khiến xe bị hư hại và tài xế bị thương.

 

Hệ thống đã hoàn chỉnh của chúng tôi cung ứng một màn ăng-ten hướng vào vùng Trung Đông; một vào Quần đảo Anh; một vào vùng Scandinavia, một vào nước Nga; một ăng-ten đảo hướng, một phía hướng đến Tây Ban Nha, còn phía kia hướng về các nước Đông Âu. Tất cả đều được trang bị vật phản quang để tăng thêm công suất cho hướng muốn nhắm tới. Ngoài ra, chúng tôi còn gắn nhiều bó ăng-ten lưỡng cực, với các bộ phận phản quang và ngắm hướng, giúp chúng tôi phát được sóng mạnh vào các nước gần hơn. Một trong những ăng-ten này hướng vào nước Ý, một vào nước Đức, và một vào nước Pháp.

 

Khi thực sự bắt đầu phát sóng, chúng tôi lại gặp những nan đề khác. Đúng ngay hướng bắc là hướng phát sóng khó nhất của chúng tôi vì phải vượt qua đỉnh núi. Do việc này khiến cho góc bắn tia phát sóng đi sai, cho nên tín hiệu rõ nhất vào vùng Scandivania đòi hỏi việc xây dựng một ăng-ten bên kia núi, cách khoảng một phần ba dặm, trơ trọi một mình. Chúng tôi phải lắp đi lắp lại nhiều lần vì phải thử cho đến khi tìm ra cách kết hợp tốt nhất để tạo ra tín hiệu tuyệt hảo vào vùng nhắm tới.

 

Ngay từ đầu chúng tôi nhận ra rằng công tác lập chương trình sẽ rắc rối. Vì cho dù đã nâng công suất từ 22.5 ki-lô-oát tại Tangier lên 100 ki-lô-oát tại Monte Carlo, nhưng ở đây chúng tôi chỉ bắt đầu với một máy phát sóng. Điều này có nghĩa lúc đầu xấp xỉ 500 chương trình mỗi tháng được phát đi qua ba máy tại Tangier sẽ phải sắp xếp lại để bây giờ có thể được phát trên một máy duy nhất. Việc này đòi hỏi loại bỏ một số chương trình để có thể tập trung vào việc phát thanh những chương trình hiệu quả nhất. Tuy nhiên, sau này có thêm được một máy phát 100.000 oát thứ hai nữa.

 

Ngày 16 tháng mười, 1960 thì chúng tôi thực sự phát thanh. Chúng tôi khó có thể tin rằng chỉ mới có mười ba tháng kể từ ngày chúng tôi ký hợp đồng với đài Monte Carlo! Burt Reed và Bill Mial mang băng ghi âm tới phòng phát thanh trong đêm đầu tiên đó.

 

Burt nói về đêm đầu tiên: “Tôi sẽ không bao giờ quên kinh nghiệm đó chừng nào mình còn sống. Chúng tôi ở đó với vài viên chức của đài Monte Carlo, và chúng tôi chỉ đứng loanh quanh khóc lớn tiếng như các em bé.” Đã chín tháng trôi qua kể từ buổi phát thanh cuối ở Tangier. Mọi người đã làm việc trối chết – và bây giờ, cuối cùng nó hoạt động kia rồi! Những nhân viên khác của Đài Phát thanh Xuyên Thế giới hiện đang ở nhà Bill, nơi chúng tôi tập họp sau các chương trình  phát thanh để cảm tạ và ngợi khen.

 

Kết quả bắt đầu lộ rõ ngay tức khắc. Trong năm đầu, 18.000 thư đổ về đài khích lệ lòng chúng tôi; 800 thư yêu cầu giúp đỡ thuộc linh. Kết quả dường như tương xứng với mức độ mà tín đồ tại một nước nào đó đã dâng hiến và hoạt động để giúp việc phát thanh Phúc âm có thể thực hiện được bằng ngôn ngữ của mình. Chính sách của Đài Phát thanh Xuyên Thế giới đã được đặt ra nhiều năm trước.

 

Người ta thường hỏi chúng tôi: “Các ông có người tại Monte Carlo để nói đủ hai mươi bốn thứ tiếng sao?” Không, chúng tôi không hề có chính sách như vậy. Điều này sẽ có nghĩa là một ban phụ trách rất hạn chế, có thể chỉ một người thôi, phải làm hết mọi chương trình cho nhóm ngôn ngữ của mình. Chúng tôi muốn giới thiệu nhiều tên tuổi cùng giọng nói và thể thức chương trình khác nhau cho một nước nhất định, và cách hay nhất để làm điều này là thực hiện chương trình ngay tại nước đó khi có thể được. Theo cách này, ban phụ trách bản xứ tại địa phương có thể chịu trách nhiệm cung ứng các phát thanh viên cùng nhạc sĩ khác nhau, những nhà truyền giảng Phúc âm hàng đầu từ khắp nơi trong nước, từng được thính giả địa phương biết tiếng và kính nể.

 

Thí dụ, O. Hallesby, người Na Uy có những sách bồi linh nổi tiếng về nếp sống Cơ-đốc được dịch sang nhiều thứ tiếng, là một diễn giả thường xuyên của Đài Phát thanh Xuyên Thế giới tại Monte Carlo. Là một người tài năng rất được kính trọng, tiến sĩ Hallesby dạy tại đại học Free University ở Na Uy cho tới lúc qua đời. Ông chưa bao giờ có thể bỏ vị trí của mình tại trường đại học để tới Monte Carlo. Nhưng một kỹ sư Na Uy hoàn toàn có thể vào phòng làm việc của người tín đồ này mỗi tuần một lần để ghi âm các sứ điệp của ông và sau này đưa đi phát thanh từ Monte Carlo. Chương trình này được bổ sung thêm phần ghi âm các ca đoàn từ các Hội thánh và Trường Kinh Thánh địa phương. Cách sắp xếp như thế đem lại cho chúng tôi cả chất lượng lẫn ảnh hưởng mà chúng tôi không bao giờ có thể có được nếu cố gắng tự làm hết chương trình một mình tại một địa điểm. Khi cho phát những diễn giả với sứ điệp Phúc âm rõ ràng, những người nổi tiếng và được yêu mến, chúng tôi đương nhiên dựng lên sân khấu cho một tập thể thính giả đông hơn, cởi mở hơn. Và trải qua năm tháng, sự hỗ trợ tại chỗ cứ đều đặn gia tăng, cho đến năm 1965 thì phân nửa số tiền ủng hộ chúng tôi có được là do người Âu châu thường xuyên đóng góp.

 

Kỳ tới: Chương XIII: Nước Đức đi đầu

 

Nếu các bạn muốn đọc các chương trước, xin liên hệ vuian@hotmail.com. Thân ái.

 

 


Họ và tên (*) Email (*)
Hiển thị email
Nội dung
 

Tháp Vĩnh Cửu: Chương XIII - Nước Đức đi đầu Các nhân viên giỏi giang của phòng soạn chương trình tại...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương XI - Phép lạ tại MONACO tôi tự hỏi tại sao chúng ta lại thấy khó tin mỗi khi một...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương X - Những thách thức mới Tiếp theo là giọng ba tôi: “Paul à, Đức Chúa Trời đã làm...
Tháp Vĩnh Cửu: Chương IX - Được thăng tiến
Tháp Vĩnh Cửu: Chương VIII - Đài tiếng nói Tangier Tôi thường thấy rằng Đức Chúa Trời sẽ đưa người tín đồ hầu...
Tháp vĩnh cửu: Chương VII - Trở lại khu rừng thông “Điều quan trọng không phải là chúng ta đã bỏ ra bao nhiêu...
   Đăng nhập | Đăng ký