Tháp Vĩnh Cửu: Chương XX - Siêu công suất tại Ca-ri-bê

Thì giờ trôi qua càng nhanh tôi càng biết chắc Đức Chúa Trời có đồng hồ riêng của Ngài!

 

Khi chúng ta kéo lê đằng sau thời biểu của Ngài, hoặc tìm cách tự đẩy mình tới trước, thì chắc chắn lệnh báo động sẽ cảnh cáo chúng ta. Đó chính là điều xảy ra cho tôi vào ngày tháng tám đó, khi Đức Chúa Trời chận tôi lại – thật đột ngột! Tôi tin đó chính là tiếng chuông của Đức Chúa Trời – vì nhiều lý do, trong đó, chủ yếu là để dạy tôi những lẽ thật sâu xa, và để cung ứng một phương tiện mạnh mẽ thâm nhập vào mọi ngõ ngách xa xôi nơi chân lý của Ngài chưa hề được nghe tới.

 

Tôi cần phải suy nghĩ và cần có thì giờ cầu nguyện cho chính đời sống mình, cũng như cho việc mở rộng hoạt động phát thanh. Vì thế, Ngài đã chận tôi lại.

 

Trong bệnh viện, tôi không biết mình còn sống được bao nhiêu ngày. Dù sao, tôi cảm thấy vẫn còn nhiều việc phải làm. Việc tôi làm cho Chúa vẫn chưa đủ.

 

Từ lâu chúng tôi vẫn muốn tìm thêm một địa điểm bổ sung để phát thanh vào châu Âu, và các chuyên gia bảo chúng tôi là nên đặt tại vùng Ca-ri-bê. Bây giờ thì phải bắt đầu tìm kiếm gấp rút. Giai đoạn này của công việc không tiến triển nhanh chóng. Nó bắt đầu với sự cầu nguyện và nhiều giờ tranh chiến, vào thời điểm mà mọi sự đều không chỉ là cố gắng mà còn là mạo hiểm nữa.

 

Người vợ thân thiết của tôi vì quá yêu tôi nên không muốn tôi suy nghĩ việc gì cả – đặc biệt là một dự án mới có quy mô tầm cỡ! Nhưng tôi lặng lẽ tự biết trong lòng rằng bước đi này không phải là vấn đề phải gắng sức – cho dù tôi có đủ năng lực để xúc tiến đi nữa. Tôi biết những kế hoạch mới phải là những kế hoạch theo đúng kỳ hạn của Đức Chúa Trời – do chính Đức Chúa Trời đưa ra và nuôi dưỡng, và được khai sinh bằng sự cầu nguyện lâu dài cũng như suy nghĩ khôn ngoan. Tôi cầu nguyện, Betty Jane cầu nguyện. Nhưng không phải lúc nào chúng tôi cũng cầu nguyện với ý nhấn mạnh giống nhau, bởi lẽ nàng muốn giữ cho tôi được an toàn, còn tôi thì muốn hiến dâng tất cả.

 

Trong thời gian hồi phục, tôi ý thức rằng mình bị hướng theo hai luồng suy nghĩ. Một số ý tưởng tuyệt vời và rõ ràng nhất xuất hiện khi tôi ở một mình. Từ hôm bị cơn suy tim, tôi để ý thấy khi tỉnh dậy sau giấc ngủ trưa thì tâm trí tôi rất sáng suốt về một số việc mà tôi cần xem xét. Nhưng còn về những vấn đề khác thì dường như tôi cần phải nói lớn tiếng để định hình ý tưởng của mình. Những lúc như vậy thì tôi rất biết ơn vợ tôi. Nàng là người rất giỏi nghe – rất quan tâm giúp tôi sắp xếp tư tưởng thành chương trình có hiệu quả. Qua những tháng tìm kiếm và lập kế hoạch cho một địa điểm bổ sung, tôi không đủ lời để nói hết ý nghĩa của việc được trao đổi với nàng và được nàng chia xẻ nhiều gánh nặng, ước vọng và nhu cầu chân thành của tôi.

 

Việc đọc thêm sách báo cũng giúp chuẩn bị tôi. Khi tôi thấy diều Đức Chúa Trời đã làm cho những người khác cũng là môn đồ Ngài, thì tôi có được khải tượng riêng về cuộc đời của mình. Tôi thấy mình thiếu sót. Tôi nhận ra con số ngày càng tăng nhanh những người cần nghe Phúc âm. Tôi nhớ các chuyên viên kỹ thuật đã thông báo cho chúng tôi địa điểm tốt nhất. Những nhận thức này pha trộn trong lòng và trí tôi. Và thực sự chính trong thời gian ba tháng khi tôi bị cấm làm việc thì đồng hồ của Đức Chúa Trời cho thấy là đã gần đến lúc phải hành động.

 

Tôi thấy mình ở trong tình trạng thật tế nhị. Trước mặt Đức Chúa Trời, tôi cảm thấy có nhiều việc phải làm. Trước gia đình, tôi cảm thấy mình cần phải cẩn thận theo đúng từng lời căn dặn của bác sĩ. Điều này đòi hỏi Betty Jane phải tận tụy và cân nhắc rất nhiều, còn tôi thì phải kiên nhẫn và cầu nguyện nhiều hơn để có thể vạch ra chi tiết cho từng ngày.

 

Thời gian hạn chế ba tháng vừa mãn ngay sau Giáng sinh 1961. Tháng hai năm 1962 tôi lên đường đi Puerto Rico để xem qua những khả năng dựng một đài siêu công suất tại đó. Ben Armstrong cùng đi với tôi. Dượng ấy cùng với vợ là Ruth bắt đầu làm việc toàn thời gian với chúng tôi từ năm 1959. Ben trung tín phục vụ trong vai giám đốc phát thanh, thiết lập được những mối liên hệ cộng tác hiệu quả giữa Đài Phát thanh Xuyên Thế giới với nhiều đài phát thanh Tin lành tại Mỹ và Ca-na-đa. Ben và Ruth cũng phục vụ một năm tại đài phát thanh của chúng tôi ở Monte Carlo. Họ rời Đài Phát thanh Xuyên Thế giới năm 1966, vì Ben được hội Các Đài Phát thanh Tôn giáo Quốc gia (National Religious Broadcasters) mời làm thư ký ban quản trị.

 

Lý do để lập thêm một đài khác với công suất mạnh hơn chỉ là vì chúng tôi muốn có thể nói được với nhiều người hơn, để chúng tôi có thể phát thanh Phúc âm đến các vùng mục tiêu hiệu quả hơn vào những giờ cao điểm.

 

Chuyên gia trong lãnh vực phát thanh quốc tế, các cố vấn tại Geneva, Thụy Sĩ, tại Đại học Edinburgh ở Darmstadt, Đức Quốc, cùng nhân viên của ban phụ trách Đài Tiếng Nói Hoa kỳ – tất cả đều nói là chúng tôi cần phải có thêm một địa điểm phát sóng ngoài Monte Carlo, nếu muốn vươn tới các vùng mục tiêu hiệu quả hơn. Mọi người đều đồng ý rằng địa điểm bổ sung tốt nhất vẫn là một nơi nào đó trong vùng Ca-ri-bê. Từ đó bạn có thể phát thanh ra cho bốn trong năm lục địa trên thế giới với hiệu quả đáng kể. Vài cố vấn tại Geneva gợi ý tôi tiếp xúc với các giới chức Đức về khả năng đặt địa điểm tại một trong các vùng bảo hộ của họ.

 

Tại Puerto Rico tôi được biết rằng, cho dù họ có cấp phép cho chúng tôi xây đài, thì mỗi lần họ chỉ cho hai tần số thôi. Trong việc phát thanh quốc tế, thì điều này cũng phần nào giống như chạy đua băng đồng mà tay chân bị cột lại vậy.

 

Trong lúc đó, cuộc khảo sát vẫn tiếp tục. Chúng tôi được biết rằng khi công suất phát đi từ Monte Carlo bắt đầu suy giảm trong những giờ buổi tối, thì một đài ở Ca-ri-bê – nhờ vị trí của nó – sẽ bắt đầu mạnh lên tại một số vùng nào đó. Đài này sẽ bổ sung cho đài kia, phát bồi vào bất cứ vùng mục tiêu nào của chúng tôi, giúp sóng đến được những vùng chỉ định ở mức tối ưu. Chúng tôi thấy mình ở vào một trong những địa điểm tốt nhất trên thế giới để gia tăng tiềm năng của mình. Toàn bộ công việc nghiên cứu được các kỹ sư đầy năng lực thực hiện cho chúng tôi là nhằm quyết định những điểm cụ thể cho các máy phát sóng cùng ăng-ten mới của chúng tôi. Cho dù có đặt đài tại nơi nào ở Ca-ri-bê thì chúng tôi cũng có thể dùng những thông tin này.

 

Ngay sau chuyến đi Puerto Rico, trong khi viếng thăm ban phụ trách tại Monte Carlo, tôi dừng lại để điện thoại cho một người bạn đang làm việc cho công ty Phillips Radio tại Hà Lan. Tôi yêu cầu ông sắp xếp cho tôi gặp một đại diện từ đảo Antilles hoặc Surinam của Hà Lan. Theo lời đề nghị của ông, tôi cứ tiến hành bay đến Hague (La Haye, theo cách gọi thông thường ở Việt Nam - ND). Tới nơi, tôi gọi điện cho văn phòng đại diện của quần đảo Antilles Hà Lan.

 

Người đại diện nói với tôi: “Tôi nghĩ ông có thể làm một việc khác hữu ích hơn là gặp tôi, thưa tiến sĩ Freed. Ngay lúc này ông I. C. Debrot, Bộ trưởng Văn hóa Giáo dục của Antilles đang ở Hà Lan. Ông nói chuyện với ông ấy thì thích hợp hơn.”

 

Khi tôi điện thoại cho ông Debroit, ông nói sẽ rất vui gặp tôi trong vòng ba hoặc bốn ngày nữa, nhưng ngay lúc này thì ông phải đi Armsterdam. Tôi giải thích là tôi phải trở về Mỹ gấp, nên đề nghị tôi sẽ đi Armsterdam ngay chiều hôm đó để nói chuyện vài phút. Ông đồng ý.

 

Tôi đi năm mươi dặm đến gặp ông Debroit, và vài phút của chúng tôi tăng lên thành ba tiếng. Ông trở nên nhiệt tình về những khả năng có thể thực hiện cho quần đảo Antilles qua một đài phát thanh siêu công suất. Ông nhìn thấy được giá trị của một cơ sở phát thanh như vậy đối với toàn vùng, khiến cho khắp thế giới đều biết đến quần đảo này. Ông thực sự tin vào tiềm năng này đối với cả hai phía.

 

Mười ngày sau khi tôi trở về Mỹ, một điện tín chính thức từ chính quyền tại Antilles được giao đến văn phòng tôi. Đó là thư mời sang đảo để dự hội nghị sơ khởi về đài.

 

Khi chiếc phản lực của hãng hàng không KLM bay vào đảo Curacao, nơi đặt chính quyền trung ương của quần  đảo Antilles thuộc Hà Lan, tôi nhận biết không thể tự lo việc này được. Cứ lần nào bắt đầu hành động theo ý riêng là tôi phải dừng lại vì vấn đề sức khỏe. Tôi biết Chúa đang điều khiển, và bất kỳ tiến triển nào cũng phải là bước tiến của Ngài.

 

Statius Muller, giám đốc Cơ quan Thông tin, đón tôi tại phi trường và lái xe đưa tôi về Willemstad, thủ phủ của đảo. Ngày hôm sau chúng tôi được mời gặp các viên chức chính phủ trong một buổi tiệc tại pháo đài Nassau xưa, nhìn xuống hải cảng và thị trấn theo kiểu là lạ của Hà Lan.

 

Các bộ trưởng cực kỳ thân thiện và muốn giúp tôi tiếp tục thảo luận về kỹ thuật với ông R. H. van Haaren, lãnh đạo Bộ Bưu điện, Điện báo và Điện thoại. Ông van Haaren, với sự ủng hộ của chính phủ, cho thấy là họ hoàn toàn cộng tác với chúng tôi – cho phép xử dụng bất cứ số lượng tần số sóng ngắn nào mà không gây trở ngại cho hoạt động của địa phương, và cho phép dùng bất cứ công suất nào trong việc phát thanh trên cả sóng ngắn lẫn sóng chuẩn. Làn sóng chuẩn được cho phép để đáp ứng lại yêu cầu khó tin của tôi được phát thanh với công suất 500.000 oát, trở thành đài phát sóng AM mạnh nhất tại Tây bán cầu, và là một tần số thích hợp cho công suất lớn như vậy. Những đài mạnh nhất tại Mỹ hoạt động chỉ với một phần mười công suất đó –  tức 50.000 oát – vì vậy tôi biết là yêu cầu của mình có hơi bạo.

 

Thủ tướng E. Jonckheer, quyền Phó Thống đốc Markos, và Bộ trưởng Tài chánh Kroon đặc biệt sốt sắng làm mọi việc có thể được để khiến cho địa điểm tại Curacao hấp dẫn đối với chúng tôi. Tôi dự tính chỉ ở Antilles ba hoặc bốn ngày để điều tra sơ khởi. Nhưng mối quan tâm quá sâu sắc, ước muốn quá rõ rệt cùng những điều kiện quá rộng rãi khiến tôi lưu lại suốt hai tuần theo yêu cầu của họ.

 

Trong thời gian đó, tại những cuộc họp riêng lẻ với các bộ trưởng khác nhau cũng như những kỳ họp liên bộ, mọt giấy phép được soạn thảo cho phép chúng tôi (1) chọn bất cứ tần số nào hiệu quả trên băng tần AM; (2) được dùng công suất AM lên tới nửa triệu oát; (3) dựng bao nhiêu máy phát sóng ngắn với bất cứ công suất nào cũng được; (4) dùng bao nhiều tần số hợp lý cũng được; (5) được chính quyền địa phương cấp miễn phí một khu đất cách Willemstad mười dặm để làm điểm xây đài; (6) dùng kênh 2 cho đài truyền hình bất cứ lúc nào trong tương lai.

 

Trước mặt tập thể những viên chức sốt sắng của chính phủ Curacao tại phòng họp chính của tòa nhà Chính quyền Trung ương, Thủ tướng Jonckheer trao cho chúng tôi giấy phép chính thức để xây đài phát thanh siêu công suất.

 

Chúng tôi đã từng hội ý với nhiều chính phủ trong vùng Ca-ri-bê – hoặc chúng tôi chủ động liên hệ với họ hoặc họ tự đến với chúng tôi – và tôi dự kiến sẽ mất ít nhất là hai năm mới được họ cấp phép. Phép lạ ở đây là chỉ trong hai tuần sau khi tôi đến Antilles, chúng tôi đã được phép dựng một đài phát thanh siêu công suất ở Curacao trong quần đảo Antilles thuộc Hà Lan.

 

Chưa bao giờ trước đây trong lịch sử phát thanh có bất kỳ nhóm tư nhân nào lại được cấp giấy phép dễ dàng như vậy. Giấy phép đó sẽ giúp sóng chúng tôi đến được với vô số người đang sống sâu trong đất liền tại nhiều nước, những người sẽ không có cơ hội được nghe bằng bất kỳ phương tiện nào khác.

 

Tôi nhớ lại khi trở về Mỹ, một người trong ban phụ trách hỏi tôi: “Làm sao ông biết được ý Đức Chúa Trời là muốn chúng ta đi một bước khổng lồ như vậy tại vùng Ca-ri-bê? Dường như có lằn ranh quá mỏng manh giữa đức tin với giả định dại dột.”

 

Để trả lời, tôi nói: “Trước hết, chúng ta không thể nhìn vào chi phí. Chúng ta phải xác định ý muốn Đức Chúa Trời, rồi tin tưởng tiến tới bất chấp giá phải trả, vì biết rằng khi chúng ta đã làm theo ý Ngài, thì Ngài sẽ cung ứng phương tiện.”

 

Dù sao, chẳng phải đây là điểm then chốt trong nếp sống Cơ-đốc biết tin cậy hay sao? Trước hết, tìm kiếm ý muốn Đức Chúa Trời; sau đó, bước vào ý muốn đó không chút sợ hãi.

 

Hầu như ngay sau khi tôi về Mỹ, chúng tôi bắt đầu thương lượng để xây các máy phát sóng, toàn bộ hệ thống ăng-ten, và nhà máy phát điện. Trang thiết bị phải là hiện đại nhất trên mọi phương diện, cải tiến hơn nữa các hệ thống đài Tiếng Nói Hoa Kỳ hiện sử dụng. Các ăng-ten phải được thiết kế để có thể phát đi mọi hướng với công suất và hiệu năng tối đa. Các máy phát sóng phải có hệ thống làm mát bằng hơi nước mới nhất cùng với những đặc trưng hiện đại khác. Chúng tôi phải cố gắng tối đa về kỹ thuật để đến với từng người một có thể được.

 

Một số công ty tại Hoa Kỳ, Hà Lan, Thụy Sĩ, và Đức có khả năng đảm nhận công việc của chúng tôi, nhưng chúng tôi giao hợp đồng cả về máy phát sóng lẫn hệ thống ăng-ten cho công ty Continental Electronics tại Dallas, Texas. Họ đã từng có kinh nghiệm xây trang thiết bị phát thanh lớn nhất thế giới cho Đài Tiếng Nói Hoa kỳ và các đài công suất mạnh khác tại Okinawa (Nhật – ND) và Munich, Đức. Còn gói thầu xây nhà máy phát điện chạy bằng dầu điê-zen được giao cho công ty Alco-Westinghouse tại Schenectady, New York.

 

Giám đốc Loomis của Đài Tiếng Nói Hoa kỳ nói: “Các đài phát thanh trên khắp thế giới đang gia tăng công suất lẫn giờ phát sóng. Những làn sóng phát thanh chen chúc muôn vàn tiếng nói tranh giành sự chú ý của thính giả”.

 

Rồi ông kết luận: “Phương án duy nhất mở ra cho Đài VOA (Tiếng Nói Hoa kỳ) là tăng công suất lên cho mạnh hơn các đối thủ trên cùng tần số, và biết linh động hơn trong việc dùng các tần số. Đây là cuộc chiến trong rừng rậm. Phần thắng thuộc về kẻ nào mạnh và khôn lanh.”

 

Để cạnh tranh trong “rừng rậm âm thanh” này – để sứ điệp Phúc âm có thể chạm đến linh hồn không hề chết của những con người, cả nam lẫn nữ – chúng tôi biết mình phải ngang bằng – hoặc thậm chí vượt trội hơn – các đài thế tục về công suất. Chúng tôi biết rằng nhiều người tại nhiều vùng trên khắp thế giới sẽ không hề biết đến Chúa Giê-xu Christ nếu chúng ta không nhân lên phước hạnh này nhờ kỹ thuật phát thanh siêu công suất hiện đại.

 

Sau khi hợp đồng về trang thiết bị cần thiết đã ký xong, chúng tôi bắt đầu tự hỏi – mình đã quên điều gì, có bỏ sót điều gì, có phạm lầm lỗi nào chăng? Chúng tôi đã bỏ ra nhiều tháng lo soạn thảo loại hợp đồng thích hợp với Continental Electronics và Alco-Westinghouse, và chúng tôi thấy rằng công tác lớn nhất chính là sự trao đổi liên tục cần phải có giữa ban phụ trách Đài Phát thanh Xuyên Thế giới và các chuyên viên kỹ thuật của Continental. Cần có những thay đổi và điều chỉnh. Các quyết định không bao giờ có thể được đưa ra thuần túy dựa trên cơ sở kỹ thuật, mà thường chúng có được là nhờ thường xuyên ôn lại những mục tiêu truyền giáo của chúng tôi. Chúng tôi luôn biết ơn ban phụ trách tại Monte Carlo, những người khác trong lãnh vực phát thanh Cơ-đốc, những học giả cùng chuyên viên kỹ thuật trong các vị trí chiến lược, luôn sẵn sàng cố vấn và cùng làm việc với chúng tôi.

 

Kết quả lạ lùng cuối cùng của ba tháng hoạch định đó là có thật ít sai sót! Các công ty chính mà chúng tôi cùng làm việc cực kỳ đàng hoàng trong quan hệ với chúng tôi. Chúng tôi thấy họ là những công nhân chân thật, sẵn sàng cùng thay đổi với chúng tôi khi cần thiết.

 

Toàn bộ công tác điều phối cũng như xúc tiến dự án ở phần này vô cùng phức tạp và phiền hà. Tôi cảm thấy cần phải có sự giúp đỡ kịp thời. Nhân vật xuất hiện ngay lúc đó cần được đề cập là Bill Mial, cùng với vợ là Joan, đã từng giúp ba tôi thật nhiều trong việc củng cố chức vụ phát thanh tại Monte Carlo. Thật khó cho tôi mô tả hết được sự đóng góp của Bill trong năm kế tiếp, khi anh cùng gia đình dọn về Chatham, New Jersey, để phục vụ tại văn phòng quê nhà và cùng làm việc bên cạnh tôi trong bước tiến dài này.

 

Trong khi đó, tại Curacao, Doug và Betty Griffin đã dọn về một trong những căn nhà nhỏ trên khu đất do chính phủ cấp cho chúng tôi. Vừa từ Monte Carlo tới, và cũng như đã dày dạn kinh nghiệm trong ban phụ trách Đài Phát thanh Xuyên Thế giới tại Tangier, ông bà Griffin làm việc xa nhà, biết lập kế hoạch xây cất, kiểm tra vật liệu, và đánh giá những nan đề.

 

Khi đã quen thuộc với đảo san hô cận nhiệt đới ngoài khơi bờ biển Venezuela này rồi, thì họ cùng với nhiều người khác trong chúng tôi bắt đầu thấy được những trở ngại nghiêm trọng. Các kỹ sư, cả của chúng tôi và của chính phủ, xét đến những tình tiết phức tạp của đài siêu công suất và bắt đầu lo ngại rằng chúng tôi xây quá gần phi trường phản lực cơ tại Curacao. Càng xem xét, chúng tôi càng sợ tình trạng gần cận này. Không phải chỉ sợ vì những vấn đề mà chúng tôi sẽ đối diện , mà còn vì những vấn đề mà chính chúng tôi có thể gây cho máy bay trong tương lai nữa.

 

Vào lúc này tôi nghe bạn tôi là Markos, đã từng là quyền Phó Thống đốc Curacao, vừa được Nữ hoàng (Hà Lan – ND) cử làm phó Thống đốc đảo Bonaire kế bên. Tôi bắt đầu suy nghĩ có lẽ mình nên xem qua tình hình ở đó ra sao. Vì vậy tôi mời Doug cùng tôi đi tìm hiểu sơ tình hình tại Bonaire.

 

Anh trở về hoàn toàn phấn khởi. Ở Bonaire có ít người hơn ở Curacao. Không có phi trường cho phản lực cơ. Và những ruộng muối thật lớn tại đó cho chúng tôi những điều kiện dường như là ưu thế về mặt kỹ thuật. Khi tôi tiếp cận ông Markos cùng các viên chức hàng đầu của đảo, họ tỏ ra quan tâm và cởi mở đối với khả năng xây một đài phát thanh truyền giáo rộng lớn tại đó.

 

Dù không dễ cho họ làm điều đó, nhưng các viên chức tại Curacao đã thật rộng lượng khi đồng ý giải ước cho chúng tôi mà không đòi hỏi gì cả. Chúng tôi chưa đầu tư bất cứ thứ gì tại đó. Theo thời biểu thì còn hai tuần nữa là bắt đầu xây cất. Toàn bộ kế hoạch cho tới thời điểm này hoàn toàn có thể chuyển sang Bonaire.

 

Curacao là cánh cửa mở cho chúng tôi vào vùng Ca-ri-bê. Nếu chúng tôi đến Bonaire trước để xem xét tiềm năng sử dụng, thì hẵn chúng tôi đã thấy không thể được. Với diện tích chỉ có 112 dặm vuông đá san hô và một ít cây cối thuộc họ cọ và họ vang che bóng, đây là một đảo thấp nhô lên thành một dãy núi thấp ở đầu phía bắc. Gió thổi liên tục trong điều kiện nhiệt độ nhiệt đới. Đảo tọa lạc ngay phía đông Curacao và lớn vào hàng thứ nhì trong nhóm đảo Leeward Antilles. Nhưng chúng tôi phát hiện ra rằng về mặt kỹ thuật thì không thể có bất cứ địa điểm nào khác trên thế giới tốt hơn nơi đó – Bonaire chủ yếu là những ruộng muối, nước muối vây quanh bốn bề, cung ứng dẫn suất tuyệt vời, vì muối ướt là chất dẫn điện tốt nhất sau kim loại! Nhiều chuyên gia nói rằng đặt đài ở đó cũng giống như tăng công suất lên gấp đôi vậy.

 

Bài trên một nhật báo của quần đảo Antilles Hà Lan viết như sau: “Chính phủ Trung ương [của toàn quần đảo Antilles] không chống đối việc cấp phép dựng lên đài này tại Bonaire. Ông R. A. van Haaren, giám đốc của Lands-Radio, viếng thăm Bonaire để xem xét những kế hoạch và dự án. Ông thấy mọi sự đều đâu vào đấy. Chính quyền Bonaire sẽ cùng làm việc thật sâu sát với Đài Phát thanh Xuyên Thế giới. Quả là hay khi đài này vẫn còn ở lại với quần đảo Antilles.

 

“Nhiều công nhân Bonaire tìm được việc làm nhờ dự án này. Tiến sĩ Freed rất biết ơn sự đón tiếp nồng hậu và trợ giúp nhiệt tình ở đó. Cùng với ban phụ trách, tiến sĩ Freed hoàn toàn tin vào sự kêu gọi rõ ràng của Đức Chúa Trời, đó là phải mang Phúc âm đến cho toàn cầu. Mặt khác, lời kêu gọi này của Đức Chúa Trời đã được đáp ứng theo cách thiết thực nổi tiếng của người Mỹ.”

 

Đức Chúa Trời đã cho chúng tôi một nhóm người cùng phục vụ trong ban giám đốc. Những con người tận hiến này là rường cột của Đài Phát thanh Xuyên Thế giới suốt cả dự án, cũng như trong nhiều lãnh vực khác của chức vụ chúng tôi. William Haynes, A. L. Robertson, và R. B. Turney đã trung kiên phục vụ trong ban ngay từ lúc khởi đầu Đài Phát thanh Xuyên Thế giới. Weaver Futrell, Milton G. Frazier, Paul Grube, Milton Klausmann, George W. Lynch, và James O. Buswell III từng phục vụ nhiều năm trong ban. Trong những năm gần đây, sự có mặt của Leroy Webber, Milton Klausmann và John Hallett đã giúp tăng cường năng lực cùng sức sống cho ban.

 

Những người này xuất thân từ nhiều bối cảnh khác nhau trong đời sống. Một số là mục sư, một số phục vụ Chúa trong giới doanh nghiệp, trong khi những người khác với các khả năng đặc biệt thì tạo thành một nhóm lãnh đạo đầy năng lực cho Đài Phát thanh Xuyên Thế giới. Họ không chỉ giúp đề ra chính sách, mà còn tỏ ra hết lòng mong muốn nâng đỡ ba tôi và tôi cùng toàn ban phụ trách trên nhiều phương diện. Họ đã cùng đứng với chúng tôi trải qua những niềm vui, nỗi buồn, trong chiến thắng lẫn thất bại, khi được khen ngợi cũng như lúc bị chỉ trích, và trong sự đắc thắng sau cùng của kế hoạch cũng như mục đích của Đức Chúa Trời. Giá trị của họ không thể đo lường theo cách loài người và chỉ có cõi đời đời mới cho thấy hết hiệu quả nhờ sự chỉ đạo tận tình của họ.

 

Đức Chúa Trời cũng ban cho chúng tôi một đội ngũ nhân sự tận tụy và có năng lực làm việc tại trụ sở chính ở Chatham, New Jersey. Trong lãnh vực quản trị, Bob Dickinson mang lại sự trợ giúp vô giá. Anh không chỉ có tài và năng lực, mà còn là người tận hiến sâu sắc về mặt thuộc linh. Ted Bleich, ủy viên tài chánh của chúng tôi, là con người phục vụ hiệu quả và không mệt mỏi trong công tác quan trọng nhất của mình. Trong quan hệ với nhân viên của đài cũng như với công chúng, anh thật độc đáo khi làm cho một hoạt động mà bình thường chỉ mang tính kỹ thuật này có được một ý nghĩa thuộc linh sâu sắc.

 

Đức Chúa Trời dẫn chúng tôi từng bước một cho tới khi Ngài đưa chúng tôi đến chỗ Ngài muốn chúng tôi đến, vào chính xác thời điểm trên đồng hồ của Ngài. Suốt đường đi, Ngài ban cho chúng tôi sự bình an tuyệt vời. Bước đi chậm mà chắc, và sự yên tịnh sâu xa khiến chúng tôi không còn chỗ để nghi ngờ là mình có theo đúng thời biểu của Chúa hay không. Thậm chí khi muốn tiến bước nhanh hơn, chúng tôi cũng biết chắc mình đang đi đúng hướng. Đây là chương trình của Đức Chúa Trời, và chúng tôi cảm thấy vui sướng được dự phần trong đó.

 

Các viên chức chính quyền Bonaire tạo sự dễ dãi tối đa cho chúng tôi khi vạch ra những chi tiết trong việc xây cất đài trên đảo của họ. Họ cho chúng tôi gần một dặm vuông đất bên ngoài Kralendijk, thủ phủ của đảo, cộng thêm một khu đất nữa ở trung tâm thành phố. Họ cho chúng tôi biết là họ sẽ lát đá các con đường và lắp đặt mười đường dây điện thoại giữa thủ phủ, nơi sẽ xây các phòng thu âm, với hiện trường phát sóng bên ngoài thành phố. Họ dự tính dọn sạch miễn phí khu đất cho chúng tôi, tô điểm phong cảnh và tạo những bãi đậu xe ở cả hai địa điểm, và giao mọi thứ đá san hô chúng tôi sẽ cần đến. Mọi trang thiết bị phát thanh họ đều hứa sẽ cho nhập miễn thuế. Dịch vụ phát thanh tốt hơn liền được xem xét. Và chính phủ bảo đảm cho vay để xây bất cứ tòa nhà nào chúng tôi muốn dựng lên.

 

Các nhân viên Đài Phát thanh Xuyên Thế giới của chúng tôi là Dan Harvey và Dick Olson, về sau có thêm Jack Stoner và Bob Schultz cùng những người khác, bắt đầu công tác xây dựng dưới sự giám sát của Doug Griffin. Đã có kinh nghiệm với các đài tại Tangier và Monte Carlo, nên Doug Griffin tin chắc Đức Chúa Trời sẽ hướng dẫn việc lắp đặt này cũng diệu kỳ như Ngài đã làm ở những nơi kia. Máy phát sóng cùng các tòa nhà chứa dầu được xây trước tiên theo thời biểu. Việc xây cất bắt đầu thán chín năm 1963. Khi kiến trúc sư nghe chúng tôi định tự xây lấy, ông đã thiết kế mọi thứ thật chi li. Về sau, khi ông tới nơi để xem sản phẩm đã làm xong, ông cười và lắc đầu: “Các ông không bao giờ có thể nhờ nhà thầu mà làm tốt được như thế này đâu! Và hơn nữa, các ông lại hoàn thành sớm hơn thời biểu đến cả mấy tháng.”

 

Vào khoảng đó, một toán từ công ty Continental Electronics bắt đầu đặt nền cùng những đường dây cung cấp thiết bị cho ăng-ten. Tháp AM, được dựng cao hơn hai trăm thước, đã gây nhiều rắc rối. Ở độ cao xấp xỉ một trăm thước, những cơn gió mạnh về hướng xích đạo thường thổi dữ dội ngang qua Bonaire với tốc độ năm mươi tới sáu mươi dặm. Tình trạng này đã trở nên quá khắc nghiệt đối với công nhân khiến cho một toán phải bỏ cuộc. Công ty Continental, khi tìm một đội ngũ công nhân cừ khôi hơn, đã điều đến toán giỏi nhất cho công việc này – một đội ngũ vừa mới hoàn tất một công trình phức tạp ở Đông Á. Với trang thiết bị tốt hơn và nhiều kinh nghiệm hơn, họ đã hoàn tất được công việc.

 

Đến khi chúng tôi phải bắt đầu xây cất tòa nhà thu âm và khu nhà ở,  Đức Chúa Trời lại dành cho chúng tôi một sự ngạc nhiên khác. Gerhard Puppel, một tín đồ Đông Đức đã di cư sang Mỹ, có mở một doanh nghiệp xây cất thành công những ngôi nhà đẹp tại Michigan. Trong khi công việc đang phát triển, ông nghe được câu chuyện về Đài Phát thanh Xuyên Thế giới và đã bán hết mọi thứ, cùng gia nhập với chúng tôi tại Bonaire. Ông cùng với vợ đã đóng góp rời rộng giúp chúng tôi khởi đầu tại Ca-ri-bê, và câu chuyện tận hiến của họ đã cảm động một Hội thánh Báp-tít độc lập trong cộng đồng quê hương họ đến nỗi các thuộc viên của Hội thánh này đồng ý đảm nhận toàn bộ việc tài trợ đôi vợ chồng này.

 

Khi gần tới lúc chúng tôi bắt đầu phát sóng, tôi bị rối trí vì một vấn đề đầy thách thức. Trước đây trong thời biểu, chúng tôi đã phải chọn tần số cho máy phát sóng AM 500.000 watt. Chúng tôi được quyền chọn hầu như bất cứ tần số nào không gây nhiễu nghiêm trọng cho các đài ở Bắc và Nam Mỹ mà lúc ấy đã là vô số. Sau khi nghiên cưú kỹ, chúng tôi hạn chế lựa chọn vào hai vị trí khác nhau trên bản chỉ kênh. Cuối cùng chúng tôi chọn một và bám chặt điểm đó, bởi lẽ máy phát sóng cũng như tháp phải được xây chính xác theo một tần số đặc biệt nào đó.

 

Chúng tôi cảm thấy 800 trên bản chỉ kênh là tần số tốt nhất cần xem xét cẩn thận vì hai lý do. Trước hết,    số người dò đài ở phần giữa bản chỉ kênh cao hơn số người dò đài ở hai đầu ít nhất là ba lần. Thứ hai, ở Mỹ không có đài nào tại vị trí 800 sau khi mặt trời lặn. Thật ra, đó là tần số duy nhất không được dùng tại Mỹ vào ban đêm. Nhiều điều khác nữa cũng khiến cho 800 kí lô chu kỳ có vẻ thuận lợi cho chúng tôi.

 

Nhưng có một rắc rối lớn. Tại Maracaibo, thành phố lớn thứ nhì của Venezuela, chỉ cách Bonaire 150 dặm, có một đài phát thanh địa phương thật mạnh, phát thanh với công suất 25.000 oát ngay tại điểm 800 trên bản chỉ kênh AM. Tất cả chúng tôi đều biết rõ điều này. Chúng tôi cũng nhận biết có mối liên hệ thân thiện giữa Venezuela với quần đảo Antilles Hà Lan, cũng như giữa Venezuela với Hoa kỳ. Xét về lô-gic và thông thường mà nói thì đây là nước cuối cùng mà chúng tôi có thể gây nhiễu. Ngoài nan đề về Maracaibo, thì trong trí tôi không hề nghi ngờ gì về việc 800 phải là sự lựa chọn đúng. Nhiều chuyên gia tha thiết khuyên chúng tôi đừng chọn tần số này.

 

Khi không thể nào trì hoãn được nữa, tôi buộc miệng với các viên  chức rằng 800 sẽ là tần số tốt nhất cho chúng tôi. Tôi nghĩ hẳn mình đã mất trí khi gây phương hại cho đài Maracaibo như vậy, và có lẽ cho cả mối liên hệ giữa chúng tôi với Venezuela.

 

Sau khi lắp đặt các máy phát sóng – chỉ hai tuần trước khi tiếng nói của chúng tôi sẽ vang lên khắp vùng lục địa Nam Mỹ – thì đã xảy ra một chuyện mà chúng tôi vẫn còn thấy khó tin. Chúng tôi bỗng thấy mình chẳng còn nhận được tín hiệu nào của đài Maracaibo nữa. Chúng tôi nghĩ hẳn là có trục trặc nào đó họ mới tạm thời im lặng như vậy. Nhưng sau vài ngày không có phát thanh, chúng tôi điều tra mới biết đài Maracaibo đã bị phá sản và vĩnh viễn ngưng phát thanh!

 

Nhờ Maracaibo để lại vị trí 800 bỏ ngỏ cho chúng tôi, nên chúng tôi có thể phát sóng tại một điểm đã có sẵn thính giả, với những kết quả phi thường hầu như là ngay tức khắc từ các thính giả tại Venezuela và Colombia. Nếu chúng tôi bắt đầu sớm hơn, trong khi Maracaibo vẫn còn phát thanh, thì hẳn chúng tôi đã áp đảo các chương trình của họ nghiêm trọng đến nỗi họ có thể đã gây áp lực mạnh buộc chúng tôi phải bỏ tần số của mình. Tại đây một lần nữa, chúng tôi đã đi một bước mà theo con người có vẻ như dại dột, thế nhưng tôi biết là đúng. Đó chính là địa điểm của Đức Chúa Trời và thời điểm của Đức Chúa Trời đối với chúng tôi.

 

Ngày 1 tháng mười năm 1964, chúng tôi tổ chức lễ khai trương chính thức khu liên hợp phát thanh công suất lớn của chúng tôi dành cho các viên chức hàng đầu trên đảo. Đài được cung hiến vào ngày 25 tháng hai, 1965, để trùng hợp với chuyến viếng thăm của Vương phi Beatrix của Hà Lan. Vào dịp này, các đài phát thanh Cơ-đốc, các thành viên trong ban điều hành Đài Phát thanh Xuyên Thế giới, cùng các bạn hữu đều bay tới Bonaire để thông công trong hai ngày với nhân viên của đài, lúc ấy đã lên tới hai mươi lăm người. Chúng tôi có thể biểu tượng hóa sự vươn rộng của đài mới này qua việc giới thiệu với Vương phi một bé gái Bonaire mười tuổi – với một bó hoa tặng cho Vương Phi – đại diện cho hàng triệu người trên khắp thế giới sẽ được nghe những buổi phát thanh từ quần đảo Antilles thuộc Hà Lan.

 

Bill Mail, người từng làm việc gần gũi với tôi tại Chatham khi chúng tôi hoạch định những chi tiết của trung tâm phát thanh Ca-ri-bê, bây giờ đang cùng gia đình sống tại Bonaire. Trong cương vị quan trọng là giám đốc đài, Bill đã thực hiện xuất sắc và hiệu quả vai trò điều phối một ban phụ trách tận tụy và tài năng.

 

Vào tháng tám năm 1964, việc soạn chương trình thường xuyên trên sóng AM đã lên đến cao điểm với sự đáp ứng của thính giả từ Ca-na-đa cho tới Tierra del Fuego trên mũi cực nam của Nam Mỹ. Những người trong chúng tôi đi lại trong phạm vi nước Mỹ, dầu là ở Miami, Chatham hay Los Angeles, đều chẳng bao giờ nén được niềm háo hức khi bắt được các buổi phát thanh bằng Anh ngữ từ “Đảo Flamingo” tại tần số 800 kí lô chu kỳ. Còn các buổi phát thanh tiếng Tây Ban Nha thì thực sự phủ kín Phúc âm lên tất cả các nước Châu Mỹ La tinh tận cho tới miền nam.

 

Máy phát sóng ngắn cỡ lớn 260.000 oát bắt đầu phát đi bốn phương những chương trình bằng nhiều thứ tiếng vào mùa xuân 1965. Với những trợ cụ mới cho việc phát thanh bằng sóng ngắn –tức mạng lưới ăng-ten hiệu ứng cao, máy phát sóng siêu công suất, và dữ liệu được xử lý bằng máy vi tính – Bonaire đang góp phần thực hiện Mathiơ chương 28: “Hãy đi dạy dỗ muôn dân.”

 

Từ ngày chúng tôi quyết định cùng đi với Bonaire, con đường không hề có điểm dừng!

 

Kỳ tới: Chương XXI: Âm vang của sự sống

Nếu các bạn muốn đọc các chương trước, xin liên hệ vuian@hotmail.com. Thân ái.

 

 

 

 

 

 


Họ và tên (*) Email (*)
Hiển thị email
Nội dung
 

Khác Biệt với thế gian
Điều cần hơn hết
Mẹ chồng nàng dâu - Ngọt ngào và cay đắng
Ý nghĩa Giáng sinh
Tình yêu thương
Tháp Vĩnh Cửu: Chương cuối Các máy thu đặt ở những trạm truyền giáo xa bảo đảm việc...
   Đăng nhập | Đăng ký