Portrait of Grace - part 02 of 08

ENGLISH TRANSCRIPT FOR DUAL LANGUAGE BROADCAST

 

Leading the Way with Dr. Michael Youssef

 

“PORTRAIT OF GRACE”

Part 02 of 08

 

LỜI GIỚI THIỆU: Có lẽ phần đông chúng ta đều đã từng nghe nói đến phong trào Thái Bình Thiên Quốc tại Trung Quốc cuối thế kỷ thứ mười chín.  Đây là một phong trào đấu tranh của người Hán chống lại người Mãn Thanh và đã thành công rực rỡ vào giai đoạn đầu. Chủ trương của phong trào nầy, ngoài sự phục quốc cho người Hán, là tạo lập sự công bằng xã hội bằng cách lấy của người giàu chia đều cho người nghèo. Vì thế, nó thu hút đông đảo quần chúng tham gia.  Bên cạnh đó, có một điều đáng nói là nó có lấy một số ý tưởng Cơ-đốc giáo, nhào nặn với thuật đồng bóng, làm tư tưởng chủ đạo cho mình. Về sau, phong trào nầy đã thất bại thảm hại vì những người lãnh đạo bắt đầu tranh giành quyền lực, chém giết lẫn nhau.  Câu chuyện nầy cho thấy sự đoàn kết quan trọng như thế nào.  Về phương diện thuộc linh, chúng ta thường nói về sự hiệp một.  Sự hiệp một và sự đoàn kết là hai từ có nghĩa gần nhau, nhưng vẫn là hai từ khác nhau. Điều quan trọng là Chúa muốn con cái Ngài phải hiệp một với nhau để xây dựng vương quốc của Ngài. Một người sống một mình thì không cần phải hiệp một.  Nhưng khi sống chung với người khác, đặc biệt là trong gia đình, thì sự hiệp một là yếu tố cần thiết để đơn vị tối thiểu đó tồn tại.  Kinh Thánh ghi lại nhiều điển hình thất bại khi sự hiệp một vắng bóng trong cộng đồng dân Chúa.  Thật đáng buồn là những tấm gương nầy lại nhiều hơn những gương mẫu nói về sự hiệp một.  Sự thực con người không thể sống hiệp một với nhau nếu thiếu ân điển của Đức Chúa Trời.  Đó là lý do Chúa Giê-xu đến trần gian nầy.  Ngài đến để phục hòa con người với Đức Chúa Trời, và cũng để con người có thể hiệp một với nhau. Mời chúng ta cùng tìm hiểu điều gì xảy ra nếu thiếu sự hiệp một và thiếu cả ân điển của Đức Chúa Trời!

SECTION A

1)     Hello, listening friends.

Xin kính chào quý thính giả.

2)     What a joy it is for us to know that you have tuned in to this broadcast.

Thật là một niềm vui cho chúng tôi khi biết quý vị đã chỉnh máy lắng nghe chương trình phát thanh nầy.

3)     Today, we’ll be looking at Genesis, Chapter 27, verses 1, to Chapter 28, verse 5.

Hôm nay, chúng ta sẽ học trong Sáng Thế Ký đoạn hai mươi bảy câu một đến đoạn hai mươi tám câu năm.

4)     It’s a long passage, but, if you have your Bible, please turn with me to that passage.

Đó là một đoạn Kinh Thánh dài, nhưng nếu quý vị có Kinh Thánh xin hãy cùng mở ra với tôi.

5)     I want to begin by saying that the Bible often speaks of the blessings of unity—

Tôi muốn bắt đầu bằng cách nói rằng Kinh Thánh thường nói về những ơn phước của sự hiệp một

6)     unity in the home and unity among believers.

Hiệp một trong gia đình và hiệp một giữa vòng các tín hữu.       

7)     The psalmist said that there are spiritual blessings in store for those who come in unity with God.

Trước giả Thi Thiên nói rằng có những ơn phước thuộc linh dành sẵn cho những ai bước vào sự hiệp một với Đức Chúa Trời.

8)     If you read the Scripture carefully, you will find, from Genesis to Revelation, that there is unity in the Godhead.

Nếu quý vị đọc Kinh Thánh cẩn thận, quý vị sẽ thấy từ Sáng Thế Ký cho đến Khải huyền rằng có sự hiệp một trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời.

9)     There is unity in the holy trinity.

Có sự hiệp một giữa ba ngôi thánh.                            

10)In Genesis, you often hear the phrase, “Let us...”

Trong Sáng Thế Ký, quý vị thường nghe thấy cụm từ, “Chúng ta hãy...”    

11)That is a total unity in the Trinity.

Đó là một sự hiệp nhất trọn vẹn giữa Ba Ngôi.

12)Like all families, my family faced many difficulties in life;

Giống như mọi gia đình, gia đình tôi đã gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống;

13)but, when we, in desperation, came in total unity before God,

nhưng khi chúng tôi, trong cơn tuyệt vọng, bước vào sự hiệp một trước mặt Đức Chúa Trời,

14)we saw again and again God’s supernatural intervention in answered prayer.

Hết lần nầy đến lần khác chúng tôi đã thấy sự can thiệp siêu nhiên của Đức Chúa Trời trong những lời cầu nguyện được nhậm lời.

15)Probably, some of you are saying, “Does that mean that God does not answer individual prayer?”

Có lẽ, một vài người trong quý vị đang nói, “Có phải điều đó nghĩa là Đức Chúa Trời không nhậm lời những lời cầu nguyện riêng lẻ không?”

16)Of course He does;

Tất nhiên Ngài vẫn nhậm lời;                                                                  

17)but there is a reason why Jesus sent His disciples two by two.

Nhưng có lý do khi Chúa Giê-xu sai các môn đồ đi theo nhóm hai người một.

18)There is power in unity.

Có sức mạnh trong sự hiệp một.                                 

19)Isaac and Rebekah’s lack of unity and obedience to God’s will exasperated the tension between their two boys, Jacob and Esau.

Sự thiếu hiệp một và không vâng theo ý chỉ Đức Chúa Trời của Y-sác và Rê-bê-ca đã làm trầm trọng hơn sự căng thẳng giữa hai chàng trai Gia-cốp và Ê-sau.

20)Let me remind you of what I told you in the last message.

Tôi xin nhắc nhở quý vị điều tôi đã nói với quý vị trong sứ điệp lần trước.

21)Earlier on, God revealed His will to Rebekah and Isaac.

Trước đó, Đức Chúa Trời đã bày tỏ ý chỉ của Ngài với Rê-bê-ca và Y-sác.

22)The blessings of Abraham would be fulfilled in the younger son, Jacob, and not in the older son, Esau.

Những ơn phước của Áp-ra-ham sẽ được làm thành bởi đứa nhỏ hơn, là Gia-cốp, chứ không phải trong đứa lớn, là Ê-sau.

23)This is a reversal of the cultural norm of the day.

Đây là một sự đảo ngược quy tắc văn hóa vào thời đó.

24)We also saw that Rebekah favored Jacob and Isaac favored Esau.

Chúng ta cũng thấy rằng Rê-bê-ca thiên vị Gia-cốp và Y-sác thiên vị Ê-sau.       

25)Esau casually sold his birthright to Jacob for a cup of soup.

Ê-sau đã tùy tiện bán quyền trưởng nam của mình cho Gia-cốp lấy một chén canh.

26)Now, years have passed.

Bây giờ, nhiều năm đã trôi qua.                                             

27)Here, we find Isaac to be getting old, and it is time to pass the blessing of his father, Abraham, to his son.

Ơ đây, chúng ta thấy Y-sác đã già, và đã đến lúc chuyển những ơn phước của cha ông, là Áp-ra-ham, cho con trai ông.

28)Which son do you think he should pass the blessing to?

Quý vị nghĩ ông nên chuyển những ơn phước đó cho đứa con nào?

29)Well, which son did he try to pass the blessing to?

Ông đã cố chuyển ơn phước đó cho ai?                                                    

30)Did he act on his own will or the will of God?

Ong đã hành động theo ý riêng hay theo ý muốn của Đức Chúa Trời?

31)Ah, here’s the problem.

A, đây chính là vấn đề.                                            

32)The problem for Isaac is the problem for most of us, if not all of us.

Vấn đề của Y-sác cũng là vấn đề của hầu hết, nếu không muốn nói là của tất cả chúng ta.

33)Do you know what it is?

Quý vị có biết đó là gì không?                                                

34)We often act on our emotions, instead of acting on the truth of the Word of God.

Chúng ta thường hành động dựa theo cảm xúc, thay vì hành động dựa theo lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời.

35)We often respond to our feelings, instead of in obedience to God.

Chúng ta thường phản ứng theo cảm tính, thay vì vâng theo Đức Chúa Trời.

36)We often try to circumvent God’s Word in favor of our desires.

Chúng ta thường cố gắng né tránh lời Đức Chúa Trời để thỏa mãn ước muốn của chúng ta.         

37)Do you do that, my listening friend?

Quý vị có làm như vậy không, thưa quý thính giả?                                      

38)Why else do you think Isaac was making this transaction with Esau in secret?

Quý vị nghĩ còn lý do nào khác khiến Y-sác lại bí mật thực hiện cuộc chuyển giao nầy với Ê-sau không?

39)Just like his father, Abraham, who tried to convince God that Ishmael should be the son of promise,

Cũng giống như cha ông, Áp-ra-ham, người đã cố thuyết phục Đức Chúa Trời rằng Ích-ma-ên là đứa con của lời hứa,

40)now, Isaac is trying to get God to agree with him, instead of submitting to God’s revealed will.

Bây giờ, Y-sác đang cố khiến Đức Chúa Trời đồng ý với ông, thay vì vâng phục ý muốn đã được bày tỏ của Đức Chúa Trời.

41)My listening friend, are you getting this?

Thưa quý thính giả, quý vị có đang cố như vậy không?                                       

42)This series of messages is all about the grace of God.

Loạt sứ điệp nầy chỉ nói về ân điển của Đức Chúa Trời.                        

43)God’s grace has the power to overrule our worst failures;

An điển của Đức Chúa Trời có sức mạnh để chiến thắng những thất bại tệ hại nhất của chúng ta;

44)and I want to demonstrate that to you right now.

Và tôi muốn minh họa điều đó cho quý vị ngay bây giờ.          

45)Isaac ended up being deceived by the very senses that he sought to satisfy.

Cuối cùng Y-sác đã bị lừa dối bởi chính những suy nghĩ mà ông tìm cách thỏa mãn.

46)What do I mean by this?

Tôi nói vậy là có ý gì?                                                     

47)It is tragic to see a man at odds with his family.

Thật bi kịch khi thấy một người xung khắc với gia đình mình.

48)What is even more tragic is to see a man at odds with God’s Word and God’s instruction.

Điều còn bi kịch hơn là thấy một người xung khắc với lời Đức Chúa Trời và những sự hướng dẫn của Ngài.

49)In the New Testament, the Book of Hebrews, Chapter 11, verse 20, Isaac is described as a man of faith.

Trong Tân Ước, sách Hê-bơ-rơ đoạn mười một câu hai mươi, Y-sác được mô tả là một người của đức tin.

50)You say, “How can that be?

Quý vị nói, “Sao có thể như vậy được?                                        

51)We just saw how he was bent on disobedience to the revealed will of God.”

Chúng ta chỉ thấy ông nhất quyết không vâng theo ý muốn đã được bày tỏ của Đức Chúa Trời.”

52)Ah, the reason he is described as a man of faith is because of the grace of God.

A, lý do ông được mô tả là một người của đức tin là bởi vì ân điển của Đức Chúa Trời.

53)Let me explain.

Tôi xin được giải thích.                                                  

54)When Isaac was caught in his deception in Genesis 27, verse 33,

Khi Y-sác biết mình bị lừa dối trong Sáng Thế Ký đoạn hai mươi bảy câu ba mươi ba,

55)Isaac trembled because his wrong intentions had been exposed;

Y-sác đã run sợ vì ý định sai trái của ông đã bị phơi bày;

56)and, finally, he did the right thing and blessed Jacob again and sent him out.

Và cuối cùng, ông đã làm điều đúng là chúc phước cho Gia-cốp một lần nữa.

57)My listening friend, the grace of God not only overrules, but when you repent, God gives you credit.

Thưa quý thính giả, ân điển của Đức Chúa Trời không chỉ chiến thắng, nhưng khi quý vị ăn năn, Đức Chúa Trời sẽ ban cho quý vị công trạng.

58)Someone said to me, “But wasn’t Rebekah, by using Jacob to deceive her husband, Isaac, actually doing the will of God?

Có người đã từng nói với tôi, “Nhưng chẳng phải Rê-bê-ca, bởi việc dùng Gia-cốp để lừa chồng mình, là Y-sác, thật ra đã làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời sao?

59)After all, Rebekah received an oracle from the Lord;

Dù sao, Rê-bê-ca đã nhận được một lời tiên tri từ Chúa;

60)therefore, she was not merely looking out for her favorite son.

Vì vậy, bà không chỉ thận trọng về đứa con cưng của mình.

61)Wasn’t she trying to save the day and stop her husband from making a terrible mistake,

Bà đã cố cứu vãn mọi chuyện và ngăn chồng bà khỏi phạm một lỗi lầm khủng khiếp,

62)or, was she actually trying to bring about the will of God?

Hay là, thật ra bà đã cố thực hiện ý muốn của Đức Chúa Trời?

63)Would it not be correct to say that she was merely trying to stop her husband from going against God’s Word?”

Liệu nói rằng bà chỉ cố ngăn chồng bà không đi ngược lại lời Đức Chúa Trời thì có đúng không?”

64)My listening friend, this is very important.  Listen carefully.

Thưa quý thính giả, điều nầy rất quan trọng. Xin hãy lắng nghe thật kỹ.

65)The end does not justify the means.

Kết cục không bào chữa cho ý định.                                  

66)Deception is deception, regardless of the reason for which it is done.

Lừa dối là lừa dối, dù cho lý do để làm điều đó có là gì đi nữa.

67)Let me ask you, my listening friend.  Have you recognized the temptation here?

Tôi xin hỏi quý vị, thưa quý thính giả. Quý vị đã nhận ra sự cám dỗ ở đây chưa?

68)Let me make it very clear. This is one of Satan’s favorite temptations.

Tôi xin làm rõ việc nầy. Đây là một trong những cám dỗ ưa thích của Sa-tan.

69)It is called “shortcuts to the will of God.”

Nó được gọi là “đường tắt dẫn đến ý muốn của Đức Chúa Trời.”

70)How do I know that it is Satan’s favorite temptation?

Làm sao tôi biết đó là sự cám dỗ ưa thích của Sa-tan?  

71)Because he tried it again and again.

Bởi vì nó thực hiện cám dỗ đó hết lần nầy đến lần khác.

72)He came to Jesus in the wilderness and said to Him, “We both know that You are going to be the sovereign King of the universe.

Nó đến với Chúa Giê-xu trong đồng vắng và nói với Ngài, “Cả hai chúng ta đều biết rằng Ngài sẽ trở thành Vua tối cao của vũ trụ.

73)You know and I know that You are going to be the sovereign Judge of the world.

Ngài biết và tôi cũng biết rằng Ngài sẽ là Thẩm phán tối cao của thế giới.

74)Oh, but just let me show You an easy way to Your destination.

O, nhưng hãy để tôi chỉ cho Ngài một cách dễ dàng để đạt đến đích đến của Ngài.

75)There is a simple way to achieve what You’ve come to earth to accomplish.

Có một cách đơn giản để đạt được điều mà Ngài phải đến thế gian để hoàn tất.

76)There is a way to avoid this horrible necessity of the cross, and let me take You there.”

Có một cách để tránh sự tất yếu khủng khiếp của thập tự giá, và hãy để tôi đưa Ngài đến đó.”

77)My listening friends, always be leery of Satan’s short cuts.

Thưa quý thính giả, hãy luôn luôn cẩn thận với những con đường tắt của Sa-tan.

78)Here is the question that you need to always ask yourself.

Đây là câu hỏi mà quý vị cần phải luôn tự hỏi mình.

79)Can God fulfill His promises without my help?

Đức Chúa Trời có thể làm thành những lời hứa của Ngài mà không cần sự giúp đỡ của tôi không?

80)And here’s something you must never forget.

Và đây là một điều quý vị không bao giờ được quên.                 

81)You cannot overcome one sin by committing another sin.

Quý vị không thể vượt qua một tội lỗi bằng cách phạm một tội khác.

82)That is never God’s way;

Đó không bao giờ là phương cách của Đức Chúa Trời;         

83)so what should Rebekah have done in these circumstances?

Vậy điều lẽ ra Rê-bê-ca đã phải làm trong hoàn cảnh đó là gì?

84)Very simple.

Rất đơn giản.                                                                         

85)She should have gone to Isaac and said to him, “Isaac, my darling, I overheard what you’re about to do.

Lẽ ra bà nên đến với Y-sác và nói với ông, “Y-sác, anh yêu quý, em đã nghe được điều anh định làm.

86)Have you forgotten what God said?

Anh đã quên những điều Đức Chúa Trời phán rồi sao?                                 

87)Have you forgotten God’s oracle to us about Jacob?

Anh đã quên lời tiên tri của Đức Chúa Trời về Gia-cốp rồi sao?               

88)Have you forgotten how God answered your prayers on my behalf and gave us two boys?

Anh đã quên thể nào Đức Chúa Trời đã nhậm lời cầu nguyện của chúng ta vì cớ em và ban cho chúng ta hai con trai rồi sao?

89)Have you forgotten the promises of God?”

Anh đã quên những lời hứa của Đức Chúa Trời rồi sao?”                   

90)Do you know why I think Rebekah did not say that to her husband, Isaac?

Quý vị có biết tại sao tôi lại nghĩ Rê-bê-ca đã không nói những điều đó với chồng mình, Y-sác, không?

91)First of all, I think Isaac, at that point of his life, had the hardening of the heart;

Trước tiên, tôi nghĩ Y-sác, vào thời điểm đó trong cuộc đời ông, có tấm lòng đã chai cứng;

92)and Rebekah probably was convinced that he would not listen to her anyway;

và Rê-bê-ca có lẽ đã nghĩ rằng dù có nói cách gì thì ông cũng sẽ không nghe bà;

93)but I think there was more to it than that.

Nhưng tôi nghĩ còn hơn như vậy nữa.                                    

94)I think Isaac and Rebekah had stopped communicating with each other years earlier;

Tôi nghĩ Y-sác và Rê-bê-ca đã ngừng trò chuyện với nhau từ vài năm trước đó;

95)and, when communication between husband and wife ceases to exist,

và, khi sự giao thông giữa chồng và vợ đi đến điểm dừng,

96)sin will be easily and readily available.

Tội lỗi rất sẵn sàng và dễ dàng xuất hiện.

97)When communication between husband and wife breaks down,

Khi sự giao thông giữa chồng và vợ bị đổ vỡ,                 

98)Satan is always waiting in the wings to interfere.

Sa-tan luôn chờ đợi bên hông nhà để can thiệp.                 

99)When communication between husband and wife stops,

Khi sự giao thông giữa chồng và vợ ngừng lại,                

 

SECTION B

 

1)     what often takes place is a power struggle;

điều thường chiếm chỗ là sự tranh giành quyền lực;

2)     so Rebekah also did the wrong thing.

Vì vậy Rê-bê-ca cũng đã làm điều sai.                                       

3)     She set a terrible example for her boys.

Bà đã dựng một tấm gương xấu cho các con mình.            

4)     What a missed opportunity for Rebekah to have taught her sons to trust the Lord!

Rê-bê-ca đã bỏ lỡ một cơ hội để dạy các con mình tin cậy nơi Đức Chúa Trời!

5)     Her sons needed to be instructed in the Word of God.

Các con trai bà cần được dạy dỗ trong lời Đức Chúa Trời.          

6)     They needed to learn to believe in the Lord;

Chúng cần học biết tin cậy nơi Chúa;                           

7)     but, instead, Jacob learned the art of deception

nhưng thay vào đó, Gia-cốp đã học lấy nghệ thuật lừa gạt

8)     and Esau learned to harden his heart in rebellion.

Và Ê-sau học làm chai đá tấm lòng mình trong sự nổi loạn.

9)     Of course, Esau and Jacob should not pass the blame onto their parents for their sin.

Tất nhiên, Ê-sau và Gia-cốp không nên đổ lỗi cho cha mẹ mình về tội lỗi của họ.

10)They cannot do that now, because they were responsible adults.

Lúc đó họ không thể làm như vậy, bởi vì họ đã là những người trưởng thành có trách nhiệm.

11)My listening friends, probably the majority of our parents have made mistakes with us;

Thưa quý thính giả, có lẽ phần lớn cha mẹ đã mắc phải lỗi lầm với chúng ta;

12)but there is no excuse for any of us to spend the rest of our lives blaming our parents.

Nhưng không có lời bào chữa nào cho bất cứ ai trong chúng ta suốt quãng đời còn lại cứ buộc tội cha mẹ.

13)There has to come a time in each of our lives when we say, “Whatever mistakes my parents made, I am responsible for myself now.”

Đã đến một giai đoạn trong đời để mỗi chúng ta nói rằng, “dù cha mẹ tôi đã mắc phải lỗi lầm gì, bây giờ tôi vẫn phải chịu trách nhiệm về chính mình.”

14)Now, remember this:

Bây giờ, xin hãy nhớ điều nầy:                                    

15)the grace of God is ready to heal you.

An điển của Đức Chúa Trời sẵn sàng chữa lành quý vị.                     

16)The grace of God is ready to embrace you.

An điển của Đức Chúa Trời sẵn sàng bao bọc lấy quý vị.                       

17)The grace of God is ready to empower you.

An điển của Đức Chúa Trời sẵn sàng ban sức mạnh cho quý vị.                            

18)The grace of God is ready to restore to you all the years that have been eaten by the locusts;

An điển của Đức Chúa Trời sẵn sàng để phục hồi quý vị khỏi những năm đã bị châu chấu cắn phá;

19)so I end my message, my listening friend, where I began,

vì vậy, thưa quý thính giả, tôi xin được kết thúc sứ điệp hôm nay ở nơi tôi đã bắt đầu,

20)emphasizing the power of agreement in prayer.

Nhấn mạnh sức mạnh của sự hiệp một trong sự cầu nguyện.

21)Had Isaac and Rebekah been united in prayer,

Nếu Y-sác và Rê-bê-ca hiệp một trong sự cầu nguyện,                               

22)had Isaac and Rebekah been united in purpose,

Nếu Y-sác và Rê-bê-ca hiệp một trong mục tiêu,        

23)had Isaac and Rebekah been united in obedience,

nếu Y-sác và Rê-bê-ca hiệp một trong sự vâng lời,                                       

24)the story would have been written differently;

câu chuyện có lẽ đã được viết khác đi;                          

25)but the Bible is about the revelation of God’s grace;

nhưng Kinh Thánh dạy về sự bày tỏ ân điển của Đức Chúa Trời;                

26)and the Bible holds these people up for us to ask each of us an important question.

Và Kinh Thánh nói về những người nầy để mỗi chúng ta tự hỏi mình một câu hỏi quan trọng.

27)Are you experiencing hardness of the heart?

Tấm lòng quý vị có đang chai cứng không?                                

28)Then, there is hope for you in Christ.

Nếu vậy, vẫn còn hy vọng cho quý vị trong Đấng Christ.                   

29)Turn to Him.

Hãy xoay hướng về Ngài.                                             

30)Are you experiencing the pains of guilt and shame because of past deceptions?

Quý vị có đang trải qua nỗi đau của tội lỗi và mặc cảm vì những sự lừa dối trong quá khứ không?

31)There is hope for you in Christ. Turn to Him.

Vẫn có hy vọng cho quý vị trong Đấng Christ. Hãy xoay hướng về với Ngài.

32)Are you experiencing a sense of unworthiness?

Quý vị có đang cảm thấy không xứng đáng không?          

33)There is every hope for you in Christ. Turn to Him.

Hy vọng vẫn tràn đầy cho quý vị nơi Đấng Christ. Hãy xoay hướng về với Ngài.

34)Are you discouraged and defeated because you took some shortcuts in the past?

Quý vị có bị nản lòng và gục ngã bởi vì quý vị đã từng đi những con đường tắt trong quá khứ không?

35)There is living hope for you in Christ. Turn to Him.

Vẫn còn hy vọng sống cho quý vị trong Đấng Christ. Hãy xoay hướng về với Ngài.

36)Are you experiencing disunity in your marriage relationship?

Quý vị có đang trải qua sự thiếu hiệp một trong mối quan hệ hôn nhân của quý vị không?

37)There is every hope for you in Christ. Turn to Him.

Hy vọng vẫn tuôn tràn cho quý vị trong Đấng Christ. Hãy xoay hướng về với Ngài.

38)Is your family under attack because of sin in the past?

Gia đình quý vị có đang phải chịu tấn công bởi những tội lỗi trong quá khứ không?

39)There is every hope for you in Christ. Turn to Him.

Hy vọng vẫn tràn đầy cho quý vị trong Đấng Christ. Hãy xoay hướng về với Ngài.

40)Until next time, I wish you God’s richest blessing.

Cho đến lần tới, tôi cầu xin Đức Chúa Trời ban phước dư dật trên quý vị.

 

LỜI KẾT:  Chúng ta thường hay nói về sự hiệp một.  Thông thường, khi một chủ đề được nhắc lại nhiều lần thì có nghĩa là điều đó đang thiếu.  Tại sao người ta khó hiệp một với nhau? Câu trả lời cũng không phải là khó lắm.  Người ta thường làm theo ý mình cho là phải.  Đây là tình trạng của dân Y-sơ-ra-ên thời Các Quan Xét.  Chính vì thế mà họ thường gặp phải sự rối ren cho đến khi họ bắt đầu cầu xin có một vua.  Nhưng đây không phải là điều mới đối với họ. Trước đó, tổ phụ của họ là Y-sác và Rê-be-ca cũng đã hành động theo điều mình cho là phải.  Thay vì tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời và làm theo, Y-sác đã khăng khăng giữ ý kiến của mình, theo định chế văn hóa thời bấy giờ.  Rê-be-ca đã không hành động tương ứng để điều chỉnh lại việc nầy mà hành động một cách khác, cũng không thiêng liêng chút nào.  Chính vì cha mẹ cư xử theo hai cách khác nhau đã dẫn đến sự chia rẽ giữa hai người con trong gia đình.  Và sự chia rẽ nầy kéo dài gần như là truyền kiếp.  Lẽ ra họ phải dạy con cái mình tin cậy Đức Chúa Trời và làm theo đường lối của Ngài. Còn chúng ta ngày hôm nay thì sao? Gia đình chúng ta có hiệp một với nhau không? Quý vị có được hạnh phúc trong hôn nhân của mình không? Tình trạng hôn nhân rạn nứt là khá phổ biến vì con người không chịu sống theo sự dạy dỗ của Chúa.  Nhưng chúng ta tạ ơn Chúa vì ân điển của Ngài vẫn còn dư dật cho mọi người.  Chúa Giê-xu đã đến để gắn kết con người lại với Đức Chúa Trời và với nhau.  Hãy xin ân điển Chúa sửa lại mọi sai trật trong đời sống mình kể từ hôm nay!


Họ và tên (*) Email (*)
Hiển thị email
Nội dung
 

Portrait of Grace - part 05 of 08 Chân dung ân điển - Phần 05
Portrait of Grace - part 04 of 08 Chân dung Ân Điển - Phần 04
Portrait of Grace - part 03 of 08 Chân dung Ân Điển - Phần 03
You want me to do what ?- Part 12 of 12 Ngài muốn con làm gì ? - Phần 12
You want me to do what ?- Part 11 of 12 Ngài muốn con làm gì? - Phần 11
You want me to do what ?- Part 10 of 12 Ngài muốn con làm gì? - Phần 10
   Đăng nhập | Đăng ký