Portrait of Grace - part 04 of 08

ENGLISH TRANSCRIPT FOR DUAL LANGUAGE BROADCAST

 

Leading the Way with Dr. Michael Youssef

 

“PORTRAIT OF GRACE”

Part 04 of 08

 

LỜI GIỚI THIỆU: Đức Chúa Trời tạo dựng nên vũ trụ nầy một cách hết sức lạ lùng. Vũ trụ không tự vận hành một cách tùy tiện, ngẫu hứng mà theo một trật tự hết sức hài hòa.  Trật tự đó phục vụ các mục đích của Đức Chúa Trời dành cho các tạo vật của Ngài. Chỉ có một mình Ngài là Đấng Tạo Hóa mới có quyền thay đổi trật tự nầy. Chúng ta có thể nhìn thấy điều đó khi Chúa Giê-xu đi bộ trên mặt nước đến cùng các môn đồ đang chèo thuyền giữa biển trong một đêm giông bão. Phi-e-rơ có thể đi bộ một ít trên mặt nước khi được Chúa cho phép, ngoài ra không có ai khác làm được như thế. Cõi thiên nhiên có những quy luật riêng của nó.  Và cõi đạo đức cũng có những quy luật tương ứng.  Cõi thiên nhiên cho biết hễ ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy.  Quy luật nầy cũng được áp dụng cho nếp sống đạo đức và nếp sống tin kính.  Những người gieo trong sự công chính và thiện lành sẽ gặt lấy sự công chính và thiện lành.  Còn người gieo trong sự gian ác sẽ gặt lấy sự hư mất.  Lịch sử loài người có vô số minh chứng cho lời đúc kết nầy. Dầu vậy, những người tin Chúa Giê-xu thật may mắn vì họ không phải gặt hết mọi điều ác mà họ đã gieo. Không phải họ được miễn trừ, mà vì Chúa Giê-xu đã gặt lấy giùm họ rồi.  Tội lỗi được ví sánh như những vết thương. Sự tha thứ tương ứng với sự chữa lành.  Nhưng Đức Chúa Trời vẫn cho phép những vết sẹo còn lại để nhắc nhở con người về ân điển của Ngài.  Đức Chúa Trời không hủy bỏ mọi quy luật có liên quan. Câu chuyện Gia-cốp như được tiếp tục trình bày trong phần sau đây sẽ giúp chúng ta thấy rõ cách Đức Chúa Trời hành động khi Ngài xử lý tội lỗi của chúng ta. Kính mời quý thính giả chú ý lắng nghe.

 

SECTION A

 

1)     Hello, listening friends, and welcome to this broadcast.

Xin kính chào quý thính giả, và chào mừng quý vị đến với chương trình phát thanh nầy.                                                                                           

2)     It is a delight and joy for us to know that you have tuned in to this broadcast.

Chúng tôi hết sức phấn khởi và vui mừng khi biết quý vị đã chỉnh máy lắng nghe chương trình phát thanh nầy.

3)     Let me remind you that we have begun a series of messages entitled “Portrait of Grace;”

Tôi xin được nhắc quý vị là chúng ta đã bắt đầu một loạt sứ điệp mới có tựa đề là “Chân Dung Của An Điển;”

4)     and, today, we’ll be looking at Genesis, Chapter 29, verses 1 to 30;

và hôm nay, chúng ta sẽ học trong Sáng Thế Ký đoạn hai mươi chín từ câu một đến câu ba mươi;

5)     but, first, I want you to imagine the following scenario:

nhưng trước tiên, tôi muốn quý vị hình dung ra quang cảnh sau:        

6)     a mother or a father tells their five year old son, “Do not play with matches.”

Một người mẹ hoặc một người cha nói với đứa con trai năm tuổi của mình rằng, “Con không được nghịch diêm đâu nhé.”

7)     The little boy decides that he is going to do it anyway;

Thế nào đứa trẻ cũng sẽ quyết định làm thử điều đó;

8)     so he lights one match and nothing happens;

vì vậy nó đốt một que diêm và không có gì xảy ra cả;

9)     then, he lights another match and nothing happens;

rồi, nó đốt một que diêm khác và cũng không có gì xảy ra;

10)so, he keeps on playing with matches when mom and dad are not watching;

vì vậy, cậu bé tiếp tục chơi với các que diêm lúc bố mẹ không để ý;

11)then, one time, he lights a match and it catches fire and it burns the little fellow’s hands.

Rồi, một lần kia, cậu quẹt một que diêm, nó bắt lửa và làm bỏng tay của cậu.

12)On the way to the hospital in the ambulance, the little one keeps on saying to his parents, “I am sorry. I’m sorry. I’m sorry.”

Trên đường đến bệnh viện trên một chiếc xe cứu thương, cậu bé liên tục nói với bố mẹ, “Con xin lỗi, con xin lỗi, con xin lỗi.”

13)Now, any normal mother or father would say what?

Bây giờ, điều mà bất cứ một người cha hay một người mẹ thông thường nào cũng sẽ nói là gì?

14)“We forgive you,” of course;

“Cha mẹ tha lỗi cho con,” tất nhiên rồi;                             

15)and they truly forgive the little boy,

và họ thật sự tha lỗi cho cậu bé,                                    

16)because they love the little fellow.

Bởi vì họ yêu cậu bé.                                                              

17)They are hurting deeply for their son’s physical pain.

Họ hết sức đau lòng vì nỗi đau thân thể của con mình.                

18)They will get the best medical treatment that money can buy for their son.

Họ sẵn sàng chi tiền để cậu bé có thể nhận được sự chăm sóc y tế tốt nhất.

19)They will assure their son again and again that they have forgiven his disobedience;

Họ sẽ đảm bảo với cậu nhiều lần là họ đã tha thứ cho sự không vâng lời của cậu rồi;

20)and so, ten, fifteen or twenty years later,

và vì vậy, mười, mười lăm hay hai mươi năm sau,                

21)there are scars that the best plastic surgeons in the world cannot obliterate.

Có những vết sẹo mà những nhà phẩu thuật thẩm mỹ giỏi nhất trên thế giới cũng không thể xóa đi được.

22)The boy now is a man.

Cậu bé giờ đã là một người đàn ông.               

23)He looks at the scars and he says, “I wonder if my parents have really forgiven me.

Cậu nhìn vào những vết sẹo và nói, “Tôi tự hỏi không biết cha mẹ tôi đã thật sự tha thứ cho tôi hay chưa.

24)I’m not sure if my parents can really forgive such an act of disobedience.”

Tôi không chắc cha mẹ tôi có thể thực sự tha thứ cho một hành động không vâng lời như vậy.”

25)His parents, on their part, keep on assuring him that they forgave him the moment he said, “Sorry;”

Về phần cha mẹ cậu, họ cứ tiếp tục đảm bảo với cậu rằng họ đã tha thứ cho cậu ngay lúc cậu nói, “Con xin lỗi,”

26)but the now-grown boy says to his parents, “If you have forgiven me, then why do I have these scars?

Nhưng cậu bé giờ đã lớn nói với cha mẹ mình, “Nếu ba mẹ đã thực sự tha thứ cho con, vậy tại sao con vẫn còn những vết sẹo nầy?

27)Why should I live the rest of my life with these scars?”

Tại sao con phải sống suốt phần đời còn lại với những vết sẹo nầy?”

28)“Well,” they say, “these scars are the consequences of your disobedience.

“À,” họ nói, “những vết sẹo nầy là những hậu quả của sự không vâng lời của con.

29)These scars have nothing to do with our lack of grace in forgiving you.

Những vết sẹo nầy không liên quan gì đến sự thiếu tha thứ của cha mẹ đối với con cả.

30)Let these scars be a reminder of our act of forgiveness.

Hãy để những vết sẹo nầy nhắc nhở về sự tha thứ của cha mẹ.

31)In fact, let these scars be a reminder of our unconditional love for you.”

Thật ra, hãy để những vết sẹo nầy trở nên một sự nhắc nhở về tình yêu vô điều kiện cha mẹ dành cho con.                                                                  

32)My listening friend, did you get the picture here?

Thưa quý thính giả, quý vị đã hình dung ra hình ảnh nầy chưa?                      

33)Today, there are many people who confuse the grace of God with their deep scars.

Ngày nay, có nhiều người lầm lẫn giữa ân điển của Đức Chúa Trời với những vết sẹo hằn sâu của mình.

34)There are many people who doubt the grace of God simply because of the normal long-term consequences of their past sins.

Có nhiều người nghi ngờ về ân điển của Đức Chúa Trời đơn giản chỉ vì những hậu quả lâu dài thông thường của những tội lỗi trong quá khứ của họ.

35)God says, “I have forgiven you.

Đức Chúa Trời phán, “Ta đã tha thứ cho con rồi.                                    

36)I have covered you with My grace.

Ta đã che phủ con bằng ân điển của Ta.                                

37)I don’t count your sin against you;

Ta không tính đến những tội lỗi của con nữa đâu;                   

38)but no one can do anything about the scars.

Nhưng không ai có thể làm gì được với những vết sẹo đó.               

39)Let these scars remind you of My grace and not your failure;”

Hãy để những vết sẹo nầy nhắc nhở con về ân điển của Ta chứ không phải về những thất bại của con;”

40)and, today, my listening friends, we’re going to see this picture very clearly in Jacob’s life.

Và hôm nay, thưa quý thính giả, chúng ta sẽ nhìn bức tranh nầy cách rõ ràng hơn trong cuộc đời của Gia-cốp.

41)Jacob moved from Bethel, where we saw him alone with God;

Gia-cốp đã đến Bê-tên, nơi chúng ta thấy ông ở một mình với Đức Chúa Trời;      

42)he moved from Bethel, where he received the grace of God;

ông tiếp tục đi khỏi Bê-tên, nơi ông đã nhận được ân điển của Đức Chúa Trời;

43)he moved from Bethel, where he received a vision from God;

ông đi khỏi Bê-tên, nơi ông đã nhận được khải tượng từ nơi Đức Chúa Trời;

44)and, now, he reaches his destination—his uncle’s home—

và bây giờ, ông đã đến được đích đến, đó là nhà cậu ông

45)the home of his mother's brother, Laban, in the town of Haran;

nhà của anh của mẹ ông, là La-ban, tại Cha-ran;                               

46)and it is in Haran that Jacob will come face-to-face with the consequences of his deception.

Và chính tại Cha-ran Gia-cốp sẽ mặt đối mặt với những hậu quả của sự lừa dối của mình.

47)It is Haran where Jacob will come face-to-face with the scars of his deeds.

Chính Cha -ran là nơi Gia-cốp sẽ mặt đối mặt với những vết sẹo của những hành động của ông.

48)Here, Jacob will come face-to-face with the biblical principle of sowing and reaping.

Ơ đây, Gia-cốp sẽ mặt đối mặt với nguyên tắc Kinh Thánh về gieo và gặt.

49)When Jacob gets to Haran, he has an encounter with a beautiful girl.

Khi Gia-cốp đến Cha-ran, ông đã gặp một người con gái đẹp.

50)This girl turns out to be his cousin, Rachel,

Người con gái nầy hóa ra lại là chị em họ với ông, đó là Ra-chên,

51)and Jacob falls head over heels in love with Rachel.

Và Gia-cốp yêu Ra-chên say đắm.                                                                  

52)He even tries to show off and exhibit superhuman strength by rolling the stone from the well to water her sheep.

Thậm chí ông còn cố khoe khoang và thể hiện sức mạnh siêu phàm bằng cách lăn hòn đá ra khỏi giếng cho bầy chiên của Ra-chên uống nước.

53)Jacob loved Rachel at first sight, and he was willing to do whatever it took to marry her.

Gia-cốp yêu Ra-chên ngay từ cái nhìn đầu tiên, và ông sẵn sàng làm bất cứ điều gì để được cưới Ra-chên.

54)Now, my listening friend, I don’t want you to miss what happens next.

Bây giờ, thưa quý thính giả, tôi không muốn quý vị bỏ lỡ điều xảy ra tiếp đó.

55)Jacob wants Rachel very badly. He was willing to go to any length to marry her;

Gia-cốp mê muội Ra-chên. Ông sẵn sàng chờ đợi không kể là bao lâu để được cưới Ra-chên;

56)but his tricky Uncle Laban, the girl’s father, knew of Jacob’s desire;

nhưng người cậu mưu mẹo của ông, là La-ban, cha của Ra-chên, biết được ước muốn của Gia-cốp;

57)and he wanted to milk the situation for all that he could get out of it.

Và ông muốn lợi dụng tình thế nầy để có thể lấy được tất cả những gì có thể.

58)It was customary back then for visitors to be entertained for only three or four days—no more;

Theo phong tục thời đó khách đến thăm chỉ được tiếp đãi ba hoặc bốn ngày, không được nhiều hơn;

59)but Jacob had been in Laban’s house now for about a month, and no doubt working hard for his uncle.

Nhưng cho đến giờ Gia-cốp đã ở nhà La-ban khoảng một tháng, và làm việc siêng năng cho cậu mình không chút nghi ngờ.

60)In Genesis, Chapter 29, verse 15, you see Laban subtly and manipulatively says to Jacob, in effect, “Just because you are my nephew, it doesn’t mean that I shouldn’t pay you something.”

Trong Sáng Thế Ký đoạn hai mươi chín câu mười lăm, quý vị thấy La-ban dụ dỗ và lôi kéo Gia-cốp, “vì cớ cháu là bà con của cậu, cháu giúp không công cho cậu thôi sao?”

61)Jacob said, “I would be willing to work for seven years to have the privilege of marrying your daughter, Rachel.”

Gia-cốp đáp, “Vì Ra-chên, con út cậu, tôi sẽ giúp việc trong bảy năm.”

62)Jacob was probably hoping that her father would say, “Oh, no. One year would be fine...”

Gia-cốp có lẽ hy vọng rằng cha cô gái sẽ đáp lại, “Ồ không. Một năm là được rồi…”

63)but tricky Uncle Laban took advantage of Jacob’s generosity.

Nhưng ông cậu La-ban lợi dụng sự rộng rãi của Gia-cốp.

64)Listen to verse 20 of Chapter 29.

Hãy lắng nghe đoạn hai mươi chín câu hai mươi.                         

65)“The seven years seemed like only a few days to him because of his love for her.”

“Nhưng bởi yêu nàng, nên coi bảy năm bằng chừng đôi ba bữa.”

66)Rachel had an older sister, Leah.

Ra-chên có một người chị là Lê-a.                                          

67)She was, to state it clearly and literally, an albino;

Nói theo cách chính xác và thành thật, cô là một người bạch tạng;

68)so, in the night of the wedding, after Jacob’s seven years of hard labor,

vì vậy, trong đêm tân hôn, sau bảy năm làm việc khó nhọc của Gia-cốp,

69)the father sends Leah, Rachel’s older sister, to the wedding tent, instead of Rachel.

Người cha sai Lê-a, chị của Ra-chên, vào lều của Gia-cốp, thay cho Ra-chên.

70)She must have dressed like Rachel and she must have smelled like Rachel.

Chắc hẳn cô đã ăn mặc và có mùi hương giống như Ra-chên.

71)She must have had Rachel’s build, but she was not Rachel;

Chắc hẳn cô có cùng vóc dáng với Ra-chên, nhưng cô không phải là Ra-chên;

72)so, on the morning after, Jacob saw what happened, and he became very angry;

vì vậy, vào sáng hôm sau, Gia-cốp biết điều đã xảy ra, và ông rất tức giận;

73)and he goes out to do battle with his uncle, now his father-in-law.

Và ông đi ra để cãi nhau với cậu mình, giờ đây đã là cha vợ của ông.

74)Listen to verse 25. It’s a very important verse.

Hãy lắng nghe câu hai mươi lăm. Đây là một câu Kinh Thánh rất quan trọng.

75)“Jacob said, ‘Why have you deceived me?’”

“Gia-cốp hỏi, “Sao cậu lừa gạt tôi?”                         

76)Wow! Here are the scars.

O! Đây chính là vết sẹo.                                

77)The deceiver is now being deceived;

Kẻ lừa lọc giờ đây lại bị lừa;                                       

78)and, sadly, this is not the last time that Jacob will be a victim of deception.

Và, thật đáng buồn, đây không phải là lần cuối cùng Gia-cốp trở thành nạn nhân của sự lừa dối.

79)He deceived his blind father.

Ông đã lừa dối người cha mù của mình.                    

80)Now, he is deceived by his uncle into marrying a blind woman whom he had not loved.

Bây giờ, ông lại bị lừa dối bởi cậu mình để cưới một người phụ nữ mù mà ông không hề yêu.

81)Jacob managed to marry the love of his life, Rachel, seven days later;

Gia-cốp nỗ lực để cưới tình yêu của đời ông, là Ra-chên, bảy ngày sau đó;

82)but he had to work seven more years for her.

Nhưng ông phải làm việc thêm bảy năm nữa vì cô.          

83)My listening friend, I want you to see with me at least three ironies here.

Thưa quý thính giả, tôi muốn quý vị cùng nhìn nhận với tôi ba điều thật chua chát ở đây.

84)Irony number one—

Điều chua chát thứ nhất                                                          

85)Esau was supposed to serve Jacob, but now Jacob serves Laban.

Ê-sau lẽ ra phải hầu việc Gia-cốp, nhưng bây giờ Gia-cốp lại hầu việc La-ban.

86)Irony number two—

Điều chua chát thứ hai                                                                      

87)by getting Leah first, then Rachel, Jacob must have felt what Esau felt when he was deceived.

Bởi cưới Lê-a trước, rồi mới đến Ra-chên, nên Gia-cốp hẳn phải hiểu được cảm nhận của Ê-sau khi ông bị lừa.

88)Irony number three—

Điều chua chát thứ ba                                                                     

89)he was deceived by Rachel’s father, just as he deceived his own father.

Ong bị cha của Ra-chên lừa, cũng giống như ông đã lừa cha mình.

90)The deceiver was deceived.

Kẻ lừa dối lại bị lừa dối.                                             

91)He was reaping what he sowed.

Ong gặt điều ông đã gieo.                                           

92)My listening friend, listen carefully to what I’m going to tell you.

Thưa quý thính giả, hãy lắng nghe thật kỹ điều tôi sắp nói với quý vị đây.

93)The law of sowing and reaping is as sure as the sun and the moon are in Heaven.

Nguyên tắc gieo và gặt cũng thật như mặt trời và mặt trăng ở trên bầu trời vậy.

94)There are at least three things about biblical sowing and reaping that I want to tell you about here.

Có ít nhất ba điều về gieo và gặt trong Kinh Thánh mà tôi muốn nói với quý vị ở đây.                                           

95)First, whatever you sow, you will reap.

Thứ nhất, điều gì quý vị gieo, quý vị sẽ gặt.                            

96)Paul said, “Do not be deceived. God cannot be mocked. A man reaps what a man sows.”

Phao-lô dạy, “Chớ hề dối mình. Đức Chúa Trời không chịu khinh dễ đâu.  Vì hễ ai gieo giống chi lại gặt giống nấy.”

97)If you sow wheat, you will reap wheat.

Nếu quý vị gieo lúa mì, quý vị sẽ gặt lúa mì.                                 

98)If you sow cotton, you will harvest cotton.

Nếu quý vị gieo hạt bông, quý vị sẽ thu hoạch bông.                

99)Nobody ever planted wheat and got cotton;

Không có ai trồng lúa mì mà thu hoạch bông cả;

 

SECTION B

 

1)     and, my friend, if you want friendship, you sow friendship.

Và, thưa quý thính giả, nếu quý vị muốn có tình bằng hữu, quý vị phải gieo tình bằng hữu.

2)     If you want love, you sow love.

Nếu quý vị muốn có tình yêu, hãy gieo tình yêu.                              

3)     If you want peace, you become a peacemaker.

Nếu quý vị muốn có sự bình an, hãy trở thành một người gieo bình an.

4)     Secondly, the portion with which you sow will be the same portion that you reap.

Thứ hai, quý vị gieo bao nhiêu phần thì sẽ nhận lại bấy nhiêu phần.

5)     You cannot just sow sparingly and expect an abundant harvest.

Quý vị không thể gieo dè xẻn và trông chờ một mùa thu hoạch dư dật.

6)     In Luke, Chapter 6, verse 38, Jesus said,

Trong Lu-ca đoạn sáu câu ba mươi tám, Chúa Giê-xu dạy,                          

7)     “Give, and it will be given to you… For the measure you use, it will be measured to you.”

“Hãy cho, người sẽ cho mình… vì các ngươi lường mực nào, thì họ cũng lường lại cho các ngươi mực ấy.”

8)     In 2 Corinthians, Chapter 9, verse 6, Paul said,

Trong II Cô-rinh-tô đoạn chín câu sáu, Phao-lô dạy,            

9)     “…whoever sows generously will also reap generously;”

“…hễ ai gieo ít thì gặt ít, ai gieo nhiều thì gặt nhiều;”

10)and the third thing about sowing and reaping is this:

và điều thứ ba về gieo và gặt là như thế nầy:                  

11)no matter how long it takes, no matter how long the delay, no matter how many crop failures you may have, if you sow, you will eventually reap.

Mặc cho phải chờ đợi bao lâu, mặc cho bị chậm trễ bao lâu, mặc cho bao nhiêu mùa vụ thất thu mà quý vị đã có, nếu quý vị gieo, cuối cùng chắc chắn quý vị sẽ gặt.

12)Have you prayed for something for so long and you haven’t received the harvest yet?

Quý vị có cầu nguyện cho điều gì rất lâu rồi mà vẫn chưa nhận được mùa gặt không?

13)Keep on planting and keep on praying.  The harvest will come.

Hãy cứ tiếp tục trồng và tiếp tục cầu nguyện. Mùa gặt sẽ đến.

14)Have you been faithful and generous and self-giving, but you have not seen an abundant harvest yet?

Có phải quý vị rất trung tín và rộng rãi và tận hiến, nhưng quý vị vẫn chưa nhìn thấy một mùa gặt bội thu không?

15)Keep on planting.  The harvest will come.

Hãy cứ tiếp tục trồng. Mùa gặt sẽ đến.

16)Just as sowing and reaping in Jacob’s case worked in the negative, sowing and reaping will also work in the positive as well;

Cũng như gieo và gặt trong trường hợp của Gia-cốp xảy ra theo chiều hướng tiêu cực, gieo và gặt cũng xảy ra theo chiều hướng tích cực nữa;

17)so, when you sow in abundance, you receive in abundance;

vì vậy, khi quý vị gieo rời rộng, quý vị sẽ nhận rời rộng;

18)so, my listening friend, let me ask you this, as I’m about to conclude.

Vì vậy, thưa quý thính giả, tôi xin hỏi quý vị điều nầy trước khi tôi kết luận.

19)Do you have scars from the past?

Quý vị có những vết sẹo nào từ quá khứ không?                      

20)Don’t fret over them.

Đừng buồn phiền vì chúng.                                                  

21)If the grace of God rules in your life,

Nếu ân điển của Đức Chúa Trời cai trị trong đời sống quý vị,

22)if you have experienced the forgiveness of God in your life,

nếu quý vị đã kinh nghiệm được sự tha thứ của Đức Chúa Trời trong đời sống mình,                    

23)do not let the scars pull you down.

Đừng để cho những vết sẹo đó kéo quý vị ngã xuống.                            

24)Let the scars remind you of the grace of God.

Hãy để cho những vết sẹo đó nhắc nhở quý vị về ân điển của Đức Chúa Trời.

25)Let them remind you of the mercy and the forgiveness of God;

Hãy để chúng nhắc nhở quý vị về lòng thương xót và vị tha của Đức Chúa Trời;

26)and don’t ever forget that God can write His straight purpose with a crooked pencil.

Và đừng bao giờ quên rằng Đức Chúa Trời có thể làm thẳng mục đích của Ngài bằng một cây viết chì bị cong.

27)God can take a bent and twisted instrument and use it powerfully.

Đức Chúa Trời có thể lấy một công cụ bị cong và vặn vẹo và sử dụng nó một cách quyền năng.

28)God’s grace is more powerful than your scars.

An điển của Đức Chúa Trời mạnh mẽ hơn những vết sẹo của quý vị.

29)God’s grace can polish the roughest of diamonds.

An điển của Đức Chúa Trời có thể đánh bóng những viên kim cương xù xì nhất.

30)God’s grace calls out to the unworthy.

An điển của Đức Chúa Trời được dành cho những kẻ không xứng đáng.

31)God’s grace loves the unlovable.

An điển của Đức Chúa Trời yêu những kẻ chẳng đáng được yêu.

32)God’s grace uses the unusable.

An điển của Đức Chúa Trời sử dụng những người không thể sử dụng được.

33)God’s grace will turn your scars into stars.

An điển của Đức Chúa Trời sẽ biến những vết sẹo của quý vị thành những vì sao.

34)You can let your scars pull you down and depress you, or, you can use them as a reminder of the wonderful grace of God.

Quý vị có thể để cho những vết sẹo của mình kéo ngã và khiến quý vị chán nản, hoặc, quý vị có thể sử dụng chúng như một sự nhắc nhở về ân điển lạ lùng của Đức Chúa Trời.

35)The choice is yours.

Sự lựa chọn thuộc về quý vị.                                           

36)Until next time, I wish you God’s richest blessing.

Cho đến lần tới, tôi cầu xin Đức Chúa Trời ban phước dư dật trên quý vị.

 

                          LỜI KẾT: Đức Chúa Trời đòi hỏi sinh tế được dâng lên cho Ngài phải là một con vật tốt đẹp, không tì không vít.  Để có được một con vật làm sinh tế như thế nầy không phải dễ, nên người ta phải nuôi chúng theo một chế độ đặc biệt để đáp ứng các tiêu chuẩn tế lễ. Kinh Thánh dạy chúng ta phải dâng chính mình là một của lễ sống và thánh cho Chúa.  Nhưng chúng ta lại không đáp ứng được những tiêu chuẩn đó vì nhìn lại chính mình, chúng ta thấy mình đầy những tì vít.  Những lỗi lầm quá khứ đã tạo nên những vết sẹo đó, mặc dầu Chúa đã chữa lành và tha thứ. Dầu vậy, bởi ân điển của Chúa, Ngài vẫn đầy lòng thương xót đối với chúng ta.  Là Đấng Tạo Hóa, Ngài có quyền biến đổi những vết sẹo đó thành những điều ích lợi cho đời sống thuộc linh của chúng ta, miễn chúng ta chịu ở trong tay Ngài để được biến đổi.  Một số người, khi nhìn lại những vết sẹo quá khứ, họ cảm thấy sự không xứng đáng của mình, và bước lui lại, không dám đến gần Đức Chúa Trời.  Số người ngã lòng, nản chí như thế không phải là ít.  Nhưng nếu chúng ta nhìn lại các vết sẹo đó với một thái độ tích cực, chúng ta có thể ngợi khen Chúa và vui mừng về quyền năng giải cứu của Ngài.   Chúng ta cũng có thể vui mừng trong ân điển vì Ngài đã thay đổi mọi sự bất xứng của chúng ta, và sử dụng những vết sẹo như thế để làm điều tốt cho đời sống chúng ta.  Khi nhìn lại những vết sẹo của quá khứ, quý vị đã cảm nhận được điều gì? Quý vị có thái độ như thế nào? Hãy cảm ơn Chúa đã chữa lành những lỗi lầm quá khứ của quý vị.  Hãy ngợi khen ân điển kỳ diệu của Chúa và sống cuộc đời mới làm vui lòng Ngài.

 


Họ và tên (*) Email (*)
Hiển thị email
Nội dung
 

Portrait of Grace - part 03 of 08 Chân dung Ân Điển - Phần 03
Portrait of Grace - part 02 of 08 Chân dung Ân điển - Phần 02
You want me to do what ?- Part 12 of 12 Ngài muốn con làm gì ? - Phần 12
You want me to do what ?- Part 11 of 12 Ngài muốn con làm gì? - Phần 11
You want me to do what ?- Part 10 of 12 Ngài muốn con làm gì? - Phần 10
You want me to do what ?- Part 09 of 12 Ngài muốn con làm gì? - Phần 09
   Đăng nhập | Đăng ký