Portrait of Grace - part 05 of 08

ENGLISH TRANSCRIPT FOR DUAL LANGUAGE BROADCAST

 

Leading the Way with Dr. Michael Youssef

 

“PORTRAIT OF GRACE”

Part 05 of 08

 

LỜI GIỚI THIỆU: Ngày nay, những quyển sách bán chạy nhất là những sách viết về những chiến lược kinh doanh thành công, về những bí quyết làm giàu nhanh chóng.  Người ta ưa thích được trở nên giàu có và đó là mục tiêu cả cuộc đời của họ.  Tuy nhiên, việc nghiên cứu những bí quyết làm giàu không khiến cho người ta trở nên giàu có.  Nhiều người đã đọc những cuốn sách nói trên, chỉ để cho vui và không bao giờ thành công, vì sự giàu có còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố phức tạp khác nhau.  Người ta chỉ ‘tôn vinh’ những doanh nhân thành đạt khi họ thành công, còn khi họ phá sản thì hầu như không ai nhắc đến. Cổ nhân có câu: “Cái giàu đem đến dửng dưng, lọ là con mắt tráo trưng mới giàu.”  Nhiều người đã cố công làm giàu để cuối cùng chỉ là tay trắng mà thôi.  Còn một số người khác cứ đủng đỉnh mà lại trở nên giàu có nhờ một dịp may nào đó.  Chúng ta không biết tại sao Đức Chúa Trời lại cho một số người nầy trở nên giàu có, còn một số người khác thì lại không.  Những vấn nạn như thế nầy đối với chúng ta không có câu trả lời cụ thể.  Nhưng vấn đề đặt ra không phải là giàu có, thịnh vượng về vật chất đời nầy, mà là một đời sống sung mãn và đầy ý nghĩa.  Đây là mục tiêu mà những người tin Chúa Giê-xu phải nhắm đến.  Tuy nhiên, trong Kinh Thánh, nhất là trong Cựu Ước, chúng ta thấy nhiều người giàu có, nhất là những tổ phụ như Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.  Gia-cốp là nhân vật đang được chúng ta nghiên cứu vào thời điểm nầy.  Điều đáng nói là Gia-cốp vốn là người có quyền thừa hưởng một gia sản khổng lồ của cha mẹ để lại nhưng đã ra đi với đôi bàn tay trắng và phải tìm cách mưu sinh nơi xứ lạ quê người. Dầu vậy, chúng ta sẽ thấy Gia-cốp là một người từ ‘nước lã khuấy nên hồ.’  Từ con số không khi ra đi, chúng ta thấy Gia-cốp trở về quê hương với đoàn thê tử, với những bầy súc vật đông đảo và tôi trai tớ gái.  Không đơn giản để thâu góp được một gia tài như vậy.  Gia-cốp cũng không đủ tài khéo và năng lực để làm được điều đó.  Chính Đức Chúa Trời đã ban phước cho ông như lời Ngài đã hứa hơn 20 năm về trước.  Nhưng Đức Chúa Trời ban cho ông sự giàu có để làm gì? Mời quý vị lắng nghe mục sư diễn giả trả lời câu hỏi nầy.

 

SECTION A

 

1)     Hello, listening friends. 

Xin kính chào quý thính giả.

2)     We welcome you to this broadcast.

Chúng tôi xin chào mừng quý vị đến với chương trình phát thanh nầy.

3)     We are in the midst of a series of messages about the abounding grace of God.

Chúng ta đang ở giữa một loạt sứ điệp về ân điển dư dật của Đức Chúa Trời.

4)     We are calling it, “Portrait of Grace.”

Chúng tôi gọi đó là “Chân Dung Của An Điển.”                                 

5)     Today, we are going to be looking at Genesis, Chapter 30, verses 25 to 43;

Hôm nay, chúng ta sẽ học trong Sáng Thế Ký đoạn ba mươi, từ câu hai mươi lăm đến câu bốn mươi ba;

6)     and I want to begin by telling you about a biblical fact of history.

Và tôi muốn bắt đầu bằng cách kể cho quý vị nghe một sự thật lịch sử trong Kinh Thánh.

7)     Every time in history, when God prospers His people, it is because He wants them to use their prosperity to serve His purpose.

Trong lịch sử, cứ mỗi khi Đức Chúa Trời cho dân Ngài được thịnh vượng, đó là vì Ngài muốn họ dùng sự thịnh vượng của mình để phục vụ cho mục đích của Ngài.

8)     When the people of God fled slavery, God caused their former masters to be good to them and give them silver and gold and other things.

Khi dân sự của Đức Chúa Trời thoát khỏi ách nô lệ, Đức Chúa Trời khiến những người chủ cũ của họ đối xử tốt với họ và cho họ bạc, vàng, và những thứ khác.

9)     Why?

Để làm gì vậy?                                                                      

10)So that they will be able to build the tabernacle of God.

Để họ có thể xây dựng đền tạm cho Đức Chúa Trời.                       

11)Under the leadership of King David, God prospered His people like never before or since.

Dưới sự lãnh đạo của vua Đa-vít, Đức Chúa Trời đưa dân sự đạt đến mức cực thịnh chưa có tiền lệ hoặc sau nầy.

12)Why?

Để làm gì vậy?                                                                          

13)So that Solomon may build the Lord’s Temple.

Để Sa-lô-môn có thể xây dựng Đền thờ của Chúa.         

14)David alone gave millions of pounds of gold out of his own treasury for that purpose;

Một mình Đa-vít đã dâng hàng triệu ký vàng từ kho tàng của riêng mình cho mục đích đó;

15)and, if you look around you today, you will see that God has prospered many of His people.

Và, nếu ngày nay quý vị nhìn quanh, quý vị sẽ thấy rằng Đức Chúa Trời đã ban sự thịnh vượng cho nhiều con dân của Ngài.

16)Why?

Để làm gì vậy?                                                                               

17)God is not interested in physical temples or tabernacles anymore;

Đức Chúa Trời không còn ưa thích những đền thờ vật chất hay đền tạm nữa;   

18)but, today, God is prospering His people because He wants them to use their prosperity to prepare for His ultimate dwelling place.

Nhưng, ngày nay, Đức Chúa Trời ban sự thịnh vượng cho con cái Ngài bởi vì Ngài muốn họ dùng sự thịnh vượng của mình để chuẩn bị cho nơi ngự tối hậu của Ngài.

19)You say, “Where is that?”

Quý vị hỏi, “Đó là đâu vậy?”                                                              

20)It is in the souls of men and women around the world.

Đó là bên trong tấm lòng của mọi người nam và nữ trên khắp thế giới.

21)If you miss that point, you’ll miss God’s purpose for us.

Nếu quý vị bỏ lỡ điểm nầy, quý vị sẽ bỏ lỡ mục đích của Đức Chúa Trời dành cho quý vị.

22)Today, I want to share with you three rules about biblical prosperity, as they are exhibited in the life of Jacob.

Hôm nay, tôi muốn chia xẻ với quý vị ba nguyên tắc về sự thịnh vượng theo Kinh Thánh, như đã được bày tỏ trong cuộc đời Gia-cốp.

23)These are not the rules that will get you rich quick.

Đây không phải là những nguyên tắc giúp quý vị giàu lên mau chóng.

24)These are God’s rules.

Đây là những nguyên tắc của Đức Chúa Trời.                                     

25)Number one, do not let prosperity be your all-consuming focus.

Thứ nhất, đừng để sự thịnh vượng trở thành mục tiêu duy nhất của quý vị.

26)Number two, let hard work be your all-enduring quality.

Thứ hai, hãy để sự siêng năng trở thành phẩm chất bền bỉ của quý vị.

27)Number three, let your trust in God’s provision be your all-abiding confidence.

Thứ ba, hãy để lòng tin nơi sự chu cấp của Đức Chúa Trời trở thành niềm tin lâu dài của quý vị.

28)Let’s look at number one.

Hãy cùng học với nhau về điều thứ nhất.                         

29)Do not let prosperity, in itself, be your all-consuming purpose.

Đừng để cho sự thịnh vượng trở thành mục tiêu duy nhất của quý vị.

30)Jacob was not trying to be wealthy, but he became prosperous.

Gia-cốp không cố để trở nên giàu có, nhưng ông đã được thịnh vượng.

31)Look at verses 25 and 26 of Genesis, Chapter 30.

Hãy xem trong Sáng Thế Ký đoạn ba mươi, câu hai mươi lăm và hai mươi sáu.

32)He said to his father-in-law, “Give me my wives and children, for I now need to return home.”

Ong nói với cha vợ của mình rằng, “Xin giao vợ và con tôi lại cho tôi, đặng tôi trở về quê hương tôi.”           

33)After 14 years of faithful service, he asked for nothing that did not belong to him.

Sau mười bốn năm làm việc trung tín, ông không hề xin điều gì không thuộc về mình.

34)He could have said to his father-in-law, “Look, I made you a rich man.

Ông đã có thể nói với cha vợ mình, “Hãy nhìn xem, con đã giúp cha trở nên một người giàu có.

35)God blessed you because of me...”

Đức Chúa Trời đã ban phước cho cha vì cớ con…” 

36)but Jacob was not covetous of Laban’s wealth.

Nhưng Gia-cốp đã không tham lam của cải của La-ban.                           

37)I think, had Jacob done something for himself along the way, none of us would have blamed him;

Tôi nghĩ, nếu Gia-cốp có để dành điều gì cho mình suốt những năm ở tại đó, thì không ai trong chúng ta sẽ buộc tội ông;

38)but, no, he wanted to be faithful in his trust

nhưng, không, ông muốn trở nên trung tín trong niềm tin của mình         

39)to God in Bethel, “Whatever You give me, I will give You ten percent back.”

Với Đức Chúa Trời tại Bê-tên, “Tôi sẽ nộp lại cho Ngài một phần mười mọi của cải mà Ngài sẽ cho tôi.”

40)He knew that God was the One who would bless him, not his uncle.

Ong biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng sẽ ban phước cho ông, chứ không phải cậu của ông.

41)Jacob consciously devoted himself to God.

Gia-cốp chủ ý dâng hiến chính mình cho Đức Chúa Trời.

42)Jacob believed that he was serving God by serving Laban.

Gia-cốp tin rằng ông đang hầu việc Đức Chúa Trời khi phục vụ cho La-ban.

43)There is no denial that his Uncle Laban was mean and tight-fisted.

Không thể phủ nhận rằng cậu La-ban của ông là một người hèn hạ và chắt bóp.

44)His uncle was a cheat—manipulative, godless, and greedy --

Cậu ông là một người lừa lọc – đầy thủ đoạn, không tin kính, và tham lam

45)and Jacob could have justified gouging this kind of a person;

và Gia-cốp đã có thể có lý do chính đáng để đục khoét hạng người nầy;

46)yet, all he asked for were his wives and his children for whom he faithfully served for 14 years.

Vậy nhưng, tất cả những gì ông hỏi xin là vợ và các con mình, những người ông đã làm việc trung tín suốt mười bốn năm vì cớ họ.

47)He did not make his own prosperity his all-consuming focus;

Ông không đặt sự thịnh vượng của mình làm mục tiêu cao nhất;

48)but he worked hard to enrich his father-in-law;

nhưng ông làm việc siêng năng để làm giàu cho cha vợ mình;

49)and that is why rewarding hard work and faithfulness is a must on the part of any employer.

Và chính vì thế phần thưởng dành cho sự siêng năng và lòng trung thành là điều những người chủ buộc phải đưa ra.

50)Rewarding and prospering employees can only further prosper the employer.

Tưởng thưởng và khiến người làm công thịnh vượng sẽ chỉ càng làm cho người chủ thịnh vượng thêm.

51)Why do I say this?

Tại sao tôi lại nói như vậy?                              

52)Because, even if the boss is insensitive and blind, God is not.

Bởi vì, dầu cấp trên của chúng ta thiếu nhạy cảm và mù quáng, Đức Chúa Trời không như vậy.

53)When you don’t let prosperity be your all-consuming focus, God is the One who will prosper you.

Khi quý vị không đặt sự thịnh vượng làm mục tiêu cao nhất của mình, Đức Chúa Trời là Đấng sẽ khiến quý vị thịnh vượng.

54)Secondly, let hard work be your all-enduring quality.

Thứ hai, hãy để sự siêng năng trở thành phẩm chất bền bỉ của quý vị.

55)If anyone had an excuse for not working hard, it would have been Jacob.

Nếu có ai đó được quyền bào chữa cho sự biếng nhác của mình, thì người đó hẳn phải là Gia-cốp.

56)He could have said, “I will only work for what I’m paid.”

Ông đã có thể nói, “Ta sẽ chỉ làm việc tương xứng với điều ta nhận được.”

57)He could have said, “Laban owes me, and he owes me a lot.”

Ong đã có thể nói, “La-ban nợ ta, và ông ta nợ rất nhiều.”    

58)He could have said, “Laban cheated me, and I am going to take it easy now...”

Ong đã có thể nói, “La-ban đã lừa ta, giờ thì ta không cần phải siêng năng nữa…”

59)but, after 14 years, Jacob tells Laban, “You know how hard I worked for you...”

nhưng, sau mười bốn năm, Gia-cốp nói với La-ban, “Cậu cũng biết rằng tôi đã giúp công việc cho cậu thể nào…”

60)and Laban, who was an idol-worshipper, admitted that truth.

Và La-ban, một người thờ hình tượng, đã thừa nhận sự thật đó.

61)In verse 27 of Chapter 30, even the demons told Laban that he was blessed because of Jacob.

Trong đoạn ba mươi câu hai mươi bảy, thậm chí ma quỷ cũng nói với La-ban rằng ông đã được phước nhờ Gia-cốp.

62)You know, my friend, when you work hard,

Thưa quý thính giả, quý vị biết không, khi quý vị làm việc siêng năng,          

63)when you work diligently and faithfully,

khi quý vị làm việc cần cù và trung tín,                                

64)even pagans will testify to your faithfulness;

thậm chí những kẻ ngoại đạo cũng sẽ xác nhận cho sự trung tín của quý vị;

65)so don’t let prosperity be your all-consuming focus.

Vì vậy đừng đặt sự thịnh vượng làm mục tiêu hàng đầu của quý vị.

66)Let hard work and diligence be your all-enduring quality.

Hãy để sự siêng năng và cần cù trở thành phẩm chất bền bỉ của quý vị.

67)Thirdly, let your trust in God’s provision be your all-abiding comfort.

Thứ ba, hãy để lòng tin nơi sự chu cấp của Đức Chúa Trời trở thành nguồn an ủi lâu dài của quý vị.

68)Jacob trusted God for his prosperity.

Gia-cốp đã tin cậy Đức Chúa Trời về sự thịnh vượng của mình.              

69)Back then, there was no government relief organization.

Thời đó, không có tổ chức cứu tế chính phủ nào cả.

70)There were no private pension funds;

Cũng không có quỹ trợ cấp cá nhân;                            

71)but Jacob had something much better than all of that.

Nhưng Gia-cốp đã có điều còn tốt hơn mọi điều đó.      

72)Jacob had God;

Gia-cốp có Đức Chúa Trời;                                                                      

73)and God does not repay us for our faithfulness with worthless money.

Và Đức Chúa Trời không trả cho sự trung tín của chúng ta bằng tiền bạc vô giá trị.

74)God does not bless you based on the state of the economy.

Đức Chúa Trời không ban phước cho quý vị dựa vào tình trạng của nền kinh tế.

75)God has His own set of criteria by which He blesses you.

Đức Chúa Trời có hệ thống tiêu chuẩn riêng của Ngài để ban phước cho quý vị.

76)Laban said to Jacob, “Don’t leave. Name your wages.”

La-ban nói với Gia-cốp, “Đừng đi. Cháu hãy định công giá cháu đi.”

77)Jacob said, “I don’t want anything that I did not work for myself...”

Gia-cốp đáp, “Cháu không muốn nhận điều mà cháu không làm cho mình…”

78)and, then, he gave him a plan.

Và rồi, ông cho cậu mình một kế hoạch.            

79)“Keep all the spotted and striped animals and give me all the solid-colored animals to take care of; and, if these solid-colored animals produce spotted or striped offspring, they are mine.”

“Trong bầy chiên bầy dê hễ con nào có rằn, có đốm, cùng chiên sắc đen, thì tôi sẽ để riêng ra, ấy là phần công giá của tôi đó.”

80)Laban thought that Jacob must be stupid.

La-ban đã nghĩ rằng Gia-cốp thật ngốc nghếch.                     

81)Everyone knows that solid-colored animals don’t produce spotted or striped offspring.

Mọi người đều biết rằng những con vật đồng màu thì không sinh sản ra những con có đốm hoặc vằn.

82)Oh, but Laban did not know God’s program for prospering His children;

O, nhưng La-ban không biết kế hoạch của Đức Chúa Trời nhằm khiến các con cái của Ngài thịnh vượng;

83)and so they separated the two sets of animals, setting them fifteen miles apart.

Và vì vậy họ chia số súc vật ra làm hai, để chúng cách xa nhau mười lăm dặm.

84)What did Jacob do?

Gia-cốp đã làm gì?                                                          

85)Jacob literally put himself at a disadvantaged position.

Gia-cốp đúng là đã tự đặt mình vào một vị trí hết sức bất lợi.

86)My listening friend, listen carefully.

Thưa quý thính giả, xin hãy lắng nghe thật kỹ.                               

87)You don’t have to be a genetic expert to know that solid-colored animals will produce solid-colored offspring;

Quý vị không cần phải là một chuyên gia về di truyền học cũng thừa biết rằng những con vật đồng màu sẽ sinh ra những con con đồng màu;

88)but Jacob trusted in God’s provision, even if the odds were all stacked against him.

Nhưng Gia-cốp đã tin cậy nơi sự chu cấp của Đức Chúa Trời, thậm chí khi tình thế đang chống lại ông.

89)Jacob trusted in God’s prosperity plan, even when the world thought that he was stupid and illogical.

Gia-cốp đã tin cậy nơi kế hoạch thịnh vượng của Đức Chúa Trời, thậm chí khi thế gian nghĩ rằng ông thật ngốc nghếch và phi lý.

90)Some of you may be saying, “What about this crazy scheme of partially peeling branches and placing them in front of the animals in heat?”

Vài người trong quý vị có thể nói rằng, “kế hoạch bất bình thường lột một phần các nhánh cây ra và để chúng trước mặt đám súc vật khi chúng giao hiệp là gì đây?”

91)A lot of people have stumbled over this issue.

Rất nhiều người đã vấp ngã bởi vấn đề nầy.     

92)Some have asked, “Was Jacob superstitious?

Vài người đã hỏi, “Có phải Gia-cốp quá mê tín không?                      

93)Was Jacob cheating?”

Gia-cốp đang gian lận sao?”                                                                

94)Let me give you the bottom-line answer to this.

Tôi xin cho quý vị câu trả lời cuối cùng cho vấn đề nầy.                         

95)When the people of God were bitten by serpents and were dying from those bites,

Khi dân sự của Đức Chúa Trời bị rắn cắn và chết mất bởi những vết cắn đó,

96)God said to Moses, “Set up a bronze snake and lift it high in the wilderness;

Đức Chúa Trời phán với Môi-se, “Hãy làm lấy một con rắn lửa, rồi treo nó lên một cây sào;

97)and, when the dying people look at that bronze snake, they will be healed.”

Nếu ai bị cắn và nhìn nó, thì sẽ được sống.”

98)Let me ask you a question.

Tôi xin hỏi quý vị một câu hỏi.                                                

99)Was the healing in the bronze snake?

Có sự chữa lành trong con rắn bằng đồng không?

 

SECTION B

1)     The answer is, “No.”

Câu trả lời là “Không.”                                                                        

2)     Where was the healing?

Sự chữa lành là ở đâu?                        

3)     In the obedience of the people.

Ơ trong sự vâng lời của dân sự.                                        

4)     In a similar way, in obedience, Jacob placed the peeled branches in front of the solid-colored animals in heat

Cùng một cách đó, bởi sự vâng lời, Gia-cốp đã đặt những nhánh cây lột vỏ trước mặt các súc vật đồng màu trong khi chúng giao hiệp

5)     and they produced spotted and striped offspring.

Và chúng đã sinh ra những con có đốm và có rằn.    

6)     May I ask you a question?

Tôi có thể hỏi quý vị một câu nữa không?                           

7)     Was the power of producing genetically altered offspring in the peeling of the branches?

Có phải việc sinh ra những súc vật biến đổi màu sắc là bởi việc lột những nhánh cây không?

8)     The answer is, “No.”

Câu trả lời là “Không.”                                                                   

9)     The power was in Jacob’s obedience,

Sức mạnh nằm trong sự vâng lời của Gia-cốp,                            

10)because that was going to be God’s supernatural program to prosper His servant.

Bởi vì đó chính là chương trình siêu nhiên của Đức Chúa Trời để khiến tôi tớ của Ngài thịnh vượng.

11)Because Jacob trusted in God’s provision, God provided for him in the most unusual way.

Bởi vì Gia-cốp đã tin vào sự chu cấp của Đức Chúa Trời, nên Ngài đã chu cấp cho ông theo cách bất thường nhất.

12)In Matthew, Chapter 6, Jesus said,

Trong Ma-thi-ơ đoạn sáu, Chúa Giê-xu dạy,                                                 

13)“Doesn’t God feed the birds and clothe the flowers?

“Chẳng phải Đức Chúa Trời nuôi chim trời và mặc cho hoa sao?           

14)How much more valuable you are to God than these.”

Các ngươi chẳng phải là quý trọng hơn loài chim sao?”     

15)“Don’t worry about these things,” Jesus is saying.

Chúa Giê-xu dạy, “Chớ lo lắng về những điều đó,”                           

16)“Seek first the Kingdom of God and His righteousness, and these things will be given to you as well.”

“Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời, và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa.”

17)Listen, my listening friends, as we come to conclusion.

Thưa quý thính giả, xin hãy lắng nghe phần kết luận của chúng tôi.

18)God’s grace that saved you from sin,

An điển của Đức Chúa Trời đã cứu quý vị khỏi tội lỗi,

19)God’s grace that supplied all of your past needs,

An điển của Đức Chúa Trời đã tiếp trợ mọi nhu cầu trong quá khứ của quý vị,

20)God’s grace that redeemed you from judgment,

An điển của Đức Chúa Trời đã chuộc quý vị khỏi sự phán xét,

21)is that same grace that wants to prosper you in every way.

Chính ân điển đó muốn khiến quý vị thịnh vượng trong mọi phương diện.

22)When you don’t make prosperity to be your all-consuming focus,

Khi quý vị không đặt sự thịnh vượng là mục tiêu cao nhất của quý vị,

23)when you let hard work be your all-enduring quality,

khi quý vị để sự siêng năng trở thành phẩm chất bền bỉ của quý vị,

24)when you let your trust in God’s provision become your all-abiding comfort,

khi quý vị để lòng tin nơi sự chu cấp của Đức Chúa Trời trở thành niềm an ủi lâu dài của quý vị,

25)God’s timing is always perfect.

Thời điểm của Đức Chúa Trời luôn là hoàn hảo.           

26)Even though it may have taken 15 years to bless Jacob, as He promised him back in Bethel, God kept His promise.

Dù cho đã phải mất mười lăm năm để Gia-cốp được ban phước, như Đức Chúa Trời đã hứa với ông tại Bê-tên, Ngài đã làm thành lời hứa của Ngài.

27)God always keeps His promises.

Đức Chúa Trời luôn luôn làm thành những lời hứa của Ngài.

28)It may take a whole lot longer than you and I want,

Có thể tôi và quý vị phải chờ đợi lâu hơn là chúng ta muốn,       

29)but He will always, always, always keep His promises.

Nhưng Ngài sẽ luôn luôn, luôn luôn, luôn luôn làm thành những lời hứa của Ngài.

30)The question is this:

Câu hỏi là như thế nầy:                                                         

31)are you willing to persevere, or, will you give up too soon?

Quý vị có sẵn lòng kiên nhẫn không? Hay quý vị sẽ bỏ cuộc quá sớm?

32)It is my prayer that you, like Jacob, will persevere, working hard to serve the Lord so that He might prosper you.

Tôi cầu nguyện rằng quý vị, giống như Gia-cốp, sẽ kiên nhẫn, siêng năng hầu việc Chúa để Ngài sẽ khiến quý vị được thịnh vượng.

33)Until next time, I wish you God’s richest blessing.

Cho đến lần tới, tôi cầu xin Đức Chúa Trời ban phước dư dật trên quý vị.

 

LỜI KẾT: Có thể nhiều người trong số quý thính giả đang lắng nghe hôm nay đang sống trong sự nghèo túng và đang lo lắng về cái ăn cái mặc hằng ngày của mình và gia đình mình.  Có thể quý vị cảm thấy bất công khi một số người khác được ăn sung mặc sướng còn mình thì phải vất vả lao nhọc mà dường như tay làm không đủ cho hàm nhai.  Xin quý vị cứ yên lòng.  Đức Chúa Giê-xu hứa ban cho chúng ta mỗi ngày đủ dùng, và nếu quý vị chưa được đủ dùng mỗi ngày thì hãy lấy đức tin trình dâng điều đó lên cho Chúa, và chúng tôi tin chắc Ngài sẽ nhanh chóng trả lời cho quý vị.  Chúa Giê-xu không hứa ban sự giàu có vật chất cho những người theo Ngài.  Mọi sự giàu có trên trần gian nầy rồi sẽ qua đi. Của cải có cánh và sớm muộn nó sẽ bay đi mất.  Nhưng của cải thuộc linh thì còn lại đời đời trên thiên đàng.  Một số thính giả rất vui mừng vì Chúa ban cho họ cuộc sống đầy đủ trên trần gian nầy.  Một số ít trong quý vị đang vui hưởng sự giàu có hơn anh chị em mình.  Có bao giờ quý vị lưu tâm đến câu hỏi tại sao Chúa ban cho mình sự giàu có không? Trong sứ điệp hôm nay, mục sư diễn giả đã nhắc nhở chúng ta rằng Chúa ban cho dân Ngài sự giàu có để họ hầu việc Ngài.  Sự giàu có Chúa ban có mục đích hẳn hoi. Có một mục sư đã nói rất hay như thế nầy: Đức Chúa Trời ban cho con cái Ngài sự thịnh vượng vật chất không phải để nâng cao mức sống của họ mà để nâng cao mức ban cho của họ. Đúng vậy, dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa đã được giàu có để họ dâng làm đền tạm cho Chúa trong đồng vắng.  Vua Đa-vít đã được thịnh vượng để xây đền thờ Giê-ru-sa-lem cho Chúa.  Nhiều con cái Chúa ngày nay được giàu có để họ dâng hiến rộng rãi cho công việc truyền giáo, xây dựng nhiều đền thờ trong lòng người cho Ngài khắp nơi trên thế giới.  Họ cũng dâng hiến rộng rãi để xây những ngôi nhà thờ vật chất cho con cái Chúa ở những vùng khó khăn thiếu thốn có chỗ để thờ phượng Chúa và gây dựng đời sống tâm linh cũng như tiếp tục truyền giảng Tin Lành trong khu vực của họ.  Tuy nhiên, như Gia-cốp, chúng ta không nên để sự giàu có trở thành mục tiêu duy nhất của cuộc đời mình.  Chúng ta hãy cứ tin cậy Chúa, siêng năng làm việc và sử dụng nguồn lực Chúa ban cho để trung tín hầu việc Ngài.  Hãy nhân đôi khả năng của mình khi rộng rãi dâng hiến cho công việc Chúa.

 

 


Họ và tên (*) Email (*)
Hiển thị email
Nội dung
 

Portrait of Grace - part 04 of 08 Chân dung Ân Điển - Phần 04
Portrait of Grace - part 03 of 08 Chân dung Ân Điển - Phần 03
Portrait of Grace - part 02 of 08 Chân dung Ân điển - Phần 02
You want me to do what ?- Part 12 of 12 Ngài muốn con làm gì ? - Phần 12
You want me to do what ?- Part 11 of 12 Ngài muốn con làm gì? - Phần 11
You want me to do what ?- Part 10 of 12 Ngài muốn con làm gì? - Phần 10
   Đăng nhập | Đăng ký