You want me to do what ?- Part 07 of 12

ENGLISH TRANSCRIPT FOR DUAL LANGUAGE BROADCAST

 

Leading the Way with Dr. Michael Youssef

 

“YOU WANT ME TO DO WHAT?”

Part 7 of 12

 

LỜI GIỚI THIỆU: Có người đã ví sánh cuộc đời nầy như một đêm tối, trong đó con người phải lần mò để tìm hướng đi cho đời sống mình.  Thật đúng như vậy, sau khi con người đi theo ý riêng mà phạm tội với Đức Chúa Trời, thì mặt trời công nghĩa không còn soi sáng trên họ nữa mà chỉ có sự tăm tối triền miên bao phủ dòng lịch sử của loài người. Chúng ta biết phải làm gì trong đêm đen rồi.  Người ta phải thắp đèn để có một chút ánh sáng tạm thời, soi sáng một khoảng không gian nhỏ bé rồi chờ cho đến khi mặt trời mọc lên. Có một số tiên tri đã được sai đến trần gian nầy để chỉ cho con người biết phải đi theo hướng nào.  Đức Chúa Giê-xu đã nói về Giăng Báp-tít rằng ông là ánh sáng tạm.  Còn chính Ngài mới là mặt trời công nghĩa mọc lên soi sáng những kẻ ngồi dưới bóng tối tăm và trong miền sự chết.  Nhưng Kinh Thánh cũng chép rằng sự sáng soi trong tối tăm, tối tăm chẳng hề nhận lấy sự sáng.  Nhưng có một số người đã nhận Ngài, đã có sự soi sáng từ nơi Ngài khi họ tin nhận Đức Chúa Giê-xu Christ làm Cứu Chúa và Chúa của đời sống mình.  Thật là lý tưởng khi con người có Đấng Christ ngự trong lòng mình, làm ánh sáng cho cuộc đời mình, dẫn dắt mình trong mọi nẻo đường đời.  Nhưng cũng thật đáng tiếc, vì có một số người đã không biết tận dụng nguồn sáng nầy, là sự sáng thật soi trong lòng họ.  Để được soi sáng, người tin Chúa phải cầu xin Ngài ban cho sự khôn ngoan để biết phân biệt điều đúng và điều sai. Nhưng lắm lúc trong cuộc đời mình, chúng ta đã vội vàng hành động theo ý riêng, và không cầu hỏi ý muốn của Chúa, sự dẫn dắt của Chúa. Bởi hành động như thế, chúng ta bị sa vào sự lừa dối của ma quỉ và lâm vào hoàn cảnh bế tắc, tiến không được, mà lùi cũng không xong.  Dân của Đức Chúa Trời ngày xưa từng ở trong hoàn cảnh đó. Mục sư diễn giả sẽ dựa trên câu chuyện trong sách Giô-suê để trình bày cùng chúng ta một bài học quý giá liên quan đến sự việc nầy.  Kính mời quý thính giả vui lòng tiếp tục lắng nghe.

SECTION A

1)     Hello, listening friends, and welcome once again to this broadcast.

Xin kính chào quý thính giả, và một lần nữa xin có lời hoan nghênh quý vị lại đến với chương trình phát thanh nầy.

2)     We are so glad that you are joining us for this series of messages from the book of Joshua.

Chúng tôi thật vui mừng vì quý vị đã cùng tham gia với chúng tôi trong loạt sứ điệp từ sách Giô-suê nầy.

3)     In this series, we are learning how to follow the call of God in our lives.

Trong loạt sứ điệp nầy, chúng ta đang học biết làm thế nào để đi theo tiếng gọi của Đức Chúa Trời trong đời sống mình.

4)     And that sometimes causes us to ask the question, “You want me to do what?”

Và điều đó đôi khi khiến chúng ta đặt ra câu hỏi, "Ngài muốn con làm gì?"      

5)     Let’s quickly review the answers that we have learned so far.

Chúng ta hãy cùng nhau xem nhanh lại những câu trả lời mà chúng ta đã học được cho đến nay.

6)     Answer number one,

Câu trả lời thứ nhất,

7)     step up to God’s call in your life.

Tiến lên theo tiếng gọi của Đức Chúa Trời trong đời sống quý vị.

8)     Answer number two

Câu trả lời thứ hai                                                            

9)     is going into the enemy’s territories to share Christ.

Là tiến vào lãnh địa của kẻ thù để chia sẻ về Đấng Christ.

10)Answer number three

Câu trả lời thứ ba                                                                

11)is to cross the river of impossibility in your life with God’s supernatural help.

Là băng qua dòng sông của những điều bất khả trong đời sống quý vị nhờ sự giúp đỡ siêu nhiên của Đức Chúa Trời.

12)Answer number four is yielding to God’s plan.

Câu trả lời thứ tư là vâng theo kế hoạch của Đức Chúa Trời.               

13)Answer number five is to stay with God’s program by completely trusting Him.

Câu trả lời thứ năm là cứ tuân thủ chương trình của Đức Chúa Trời bằng cách tin cậy Ngài hoàn toàn.

14)Answer number six is to learn from your mistakes.

Câu trả lời thứ sáu là học hỏi từ những lỗi lầm của quý vị.

15)And today we will discover answer number seven, which is, know how to pray.

Và hôm nay chúng ta sẽ khám phá câu trả lời thứ bảy, đó là, biết cầu nguyện như thế nào.

16)We will discover that had Joshua prayed for discernment, he and his people would not have been deceived by the Gibeonites.

Chúng ta sẽ khám phá ra rằng nếu Giô-suê cầu nguyện xin sự sáng suốt, thì ông và dân sự đã không bị người Ga-ba-ôn lừa.

17)And to get ready for answer number seven, I want you to turn in your Bibles to Joshua chapter 9.

Và để sẵn sàng cho câu trả lời thứ bảy, tôi muốn quý vị mở Kinh Thánh ra trong Giô-suê đoạn chín.

18)For today we will see the seventh answer to the question to God, “You want me to do what?”

Bởi vì hôm nay chúng ta sẽ thấy câu trả lời thứ bảy cho câu hỏi với Đức Chúa Trời, "Ngài muốn con làm gì?"

19)And the answer is, know how to pray for discernment.

Và câu trả lời là, biết cầu xin sự sáng suốt như thế nào.

20)Had Joshua and the other leaders prayed for discernment and wisdom,

Nếu Giô-suê và các nhà lãnh đạo khác cầu xin sự sáng suốt và khôn ngoan,

21)had they asked God for insight,

nếu họ xin Đức Chúa Trời soi dẫn,

22)had they gone to God for direction,

nếu họ đến với Đức Chúa Trời để được hướng dẫn,            

23)they would not have been deceived by the Gibeonites.

Thì họ đã không bị người Ga-ba-ôn lừa.                                 

24)Let me tell you the story now.

Tôi xin kể cho quý vị nghe câu chuyện đó bây giờ.                                   

25)The people of God had just renewed their covenant with God at Mount Ebal,

Dân sự của Đức Chúa Trời vừa mới làm mới lại giao ước của họ với Đức Chúa Trời tại núi Ê-banh,

26)and they were returning to their camp in Gilgal.

Và họ đang quay về trại của mình tại Ghinh-ganh.                                   

27)They had been celebrating their victory over the city of Ai.

Họ đã tổ chức ăn mừng chiến thắng trên thành A-hi.                        

28)They were spiritually high on the victory.

Tinh thần thuộc linh họ đang lên cao sau chiến thắng đó.                      

29)My listening friend, I want to give you a warning.

Thưa quý thính giả, tôi muốn đưa ra cho quý vị một lời cảnh báo.

30)Always watch out for the times immediately after spiritual victory and great blessings.

Hãy luôn luôn tỉnh thức vào những thời điểm ngay sau những chiến thắng thuộc linh và những ơn phước lớn lao.

31)Those are Satan’s opportune times for deceptive attack.

Đó chính là những cơ hội của Sa-tan để tấn công lừa dối.

32)Whenever you think that you have achieved great success, watch out.

Hễ khi nào quý vị nghĩ rằng quý vị đã đạt được những thành công to lớn, hãy tỉnh thức.

33)That is the time when you are most vulnerable to Satan’s attack.

Đó chính là lúc quý vị dễ bị tổn thương nhất bởi sự tấn công của Sa-tan.

34)So the people of God celebrated their victory.

Dân sự của Đức Chúa Trời đã hân hoan ăn mừng chiến thắng.

35)They rededicated themselves to God.

Họ đã tái dâng hiến chính họ cho Đức Chúa Trời.                    

36)They rededicated themselves to be the people of God.

Họ đã tái dâng hiến chính họ để làm dân sự của Đức Chúa Trời.

37)And when you commit yourself to doing God’s work and witnessing for Christ,

Và khi quý vị cam kết dâng chính mình để làm công việc của Đức Chúa Trời và làm chứng cho Đấng Christ,

38)do not be surprised at the opposition and the deceptions that you will face.

Thì đừng ngạc nhiên về những sự đối nghịch và những sự lừa dối mà quý vị sẽ gặp phải.

39)The Bible said that when Jesus began  His messianic ministry of healing, preaching, and casting out demons,

Kinh Thánh chép rằng khi Chúa Giê-xu khởi đầu chức vụ cứu thế của mình bằng cách chữa lành, giảng dạy, và đuổi quỷ,

40)there were three groups of people who normally are at war with each other, yet they got united against Him;

thì có ba nhóm người bình thường vốn đối đầu với nhau, nhưng họ đã hiệp nhất để chống lại Ngài;

41)the Pharisees, the Sadducees, and the Herodians.

Đó là người Pha-ri-si, người Sa-đu-sê, và những người thuộc đảng Hê-rốt.

42)When you become serious about exercising your Christian ministry,

Khi quý vị nghiêm túc làm công việc Chúa,

43)when you become serious about claiming your environment for Christ,

khi quý vị nghiêm túc về việc chinh phục môi trường chung quanh của quý vị cho Đấng Christ,                            

44)when you become serious about being a missionary in your mission field where you are,

khi quý vị nghiêm túc về việc trở nên một nhà truyền giáo trong cánh đồng truyền giáo nơi quý vị ở,

45)that is the time when plots against you will begin to take place.

Đó chính là lúc những âm mưu chống lại quý vị bắt đầu xảy ra.

46)This is the time when Satan will work overtime to cause you to stumble.

Đây chính là lúc Sa-tan sẽ làm việc tăng ca để khiến quý vị vấp ngã.

47)This is the time when others will try to discourage you.

Đây chính là lúc những người khác sẽ cố làm nản lòng quý vị.

48)And that is why you must know how to pray against deception and deceivers.

Và chính vì thế quý vị phải biết làm thế nào để cầu nguyện chống lại sự lừa dối và những kẻ lừa dối.

49)In the book of Joshua, we learn that the neighboring Gibeonites grew fearful of God’s people.

Trong sách Giô-suê, chúng ta biết rằng dân Ga-ba-ôn ở gần đó đã trở nên sợ hãi dân sự của Đức Chúa Trời.

50)They had heard of Joshua’s great victories and they knew they could not defeat him through warfare.

Họ đã nghe nói về những chiến thắng vĩ đại của Giô-suê và họ biết họ không thể đánh bại ông bằng chiến trận.

51)So the Gibeonites tried to scheme against God’s people.

Vì vậy người Ga-ba-ôn đã cố lập mưu chống lại dân sự của Đức Chúa Trời.

52)They disguised themselves as travelers from distant land.

Họ cải trang mình thành những người từ xứ xa đến.

53)They wore dirty and worn out clothes and sandals.

Họ mặc quần áo và mang những đôi giày bẩn thỉu và cũ mòn.          

54)And they carried moldy bread and patched wineskins.

Và họ mang theo bánh mì khô và bầu rượu nứt nẻ.

55)They pretended to be peaceful travelers seeking a covenant with God’s people.

Họ giả vờ là những khách du hành hòa bình đang tìm kiếm một hòa ước với dân sự của Đức Chúa Trời.

56)They said to Joshua and his people, “We have come a long way. Make covenant with us.”

Họ nói với Giô-suê và dân sự, “Chúng tôi đi từ rất xa đến đây, vậy bây giờ, hãy lập giao ước cùng chúng tôi.”

57)Some of you, my listening friends, may be probably asking, “Why did they have to go to all this trouble of creating this elaborate scheme?”

Thưa quý thính giả, vài người trong quý vị có lẽ hỏi rằng, “Tại sao họ lại phải dính vào rắc rối nầy bằng cách dựng lên mưu đồ tinh vi nầy?”

58)Because the Gibeonites knew the Bible.

Bởi vì người Ga-ba-ôn biết Kinh Thánh.                                                        

59)They knew that Deuteronomy chapter 20 verse 10-15 instructed the Israelites to destroy the Canaanites,

Họ biết Phục truyền luật lệ ký đoạn hai mươi từ câu mười đến câu mười lăm chỉ thị cho dân Y-sơ-ra-ên phải tiêu diệt dân Ca-na-an,

60)but they are to make covenant with people from distant cities.

Nhưng họ phải lập hòa ước với các dân ở các thành xa xôi.

61)My listening friends, the people who are the most deceptive are those who can quote the Bible as well as you can.

Thưa quý thính giả, những người lừa dối nhất là những người cũng có thể trích dẫn Kinh Thánh giỏi như quý vị.

62)At that point, had Joshua and the leaders had gone to God for help when the Gibeonites appeared,

Vào thời điểm nầy, nếu Giô-suê và các nhà lãnh đạo đến với Đức Chúa Trời để cầu xin sự giúp đỡ khi người Ga-ba-ôn xuất hiện,

63)if Joshua and God’s people had sought God’s counsel, wisdom, and discernment,

nếu Giô-suê và dân sự của Đức Chúa Trời tìm kiếm sự chỉ dẫn, sự khôn ngoan và sự sáng suốt của Đức Chúa Trời,

64)then God would have shown His people that these visitors were deceivers.

Thì Đức Chúa Trời đã chỉ cho dân Ngài thấy rằng những khách viếng thăm đó là những kẻ lừa dối.

65)Let me give you an illustration of how deception can work.

Tôi xin đưa ra cho quý vị một minh họa về lừa dối có thể xảy ra như thế nào.

66)There’s a story that is told about a well known British art critic.

Có một câu chuyện kể về một nhà phê bình nghệ thuật nổi tiếng người Anh.

67)He one day took his daughter to the beach.

Một ngày kia ông dẫn con gái mình đến bãi biển. 

68)But he was unable to persuade her to join him in the chilly water of the English coast.

Nhưng ông không thể nào thuyết phục cô bé cùng mình lội xuống dòng nước lạnh giá của vùng bờ biển nước Anh.

69)So the father built a fire,

Vì vậy người cha đốt một đống lửa,                           

70)and heated a kettle of water,

và đun sôi một ấm nước,                                                      

71)and with great flair, he poured the steaming water into the ocean.

Và hết sức khéo léo, ông đổ ấm nước sôi sùng sục đó vào đại dương.

72)At that point, the little girl ran gleefully into the water without any hesitation.

Khi đó, cô bé chạy ào xuống nước không chút ngần ngại.

73)Now the father’s trick may have been harmless, but that’s how we often are deceived by others.

Bây giờ mẹo của người cha có thể vô hại, nhưng đó chính là cách chúng ta thường bị người khác lừa dối.

74)The deceivers mix a small amount of truth into an ocean of falsehood, and people wade into it.

Những kẻ lừa dối pha trộn một lượng nhỏ sự thật vào cả một đại dương giả dối, và người ta lội xuống đó.

75)They are not suspecting that they have been lured away from their mission of being ambassadors for Jesus Christ.

Họ không chút nghi ngờ nào rằng mình đã bị dụ dỗ đi xa khỏi chức vụ đại sứ cho Đức Chúa Giê-xu Christ của họ.

76)Now, my listening friends, Joshua had his suspicion about the Gibeonites.

Bây giờ, thưa quý thính giả, Giô-suê đã có lòng nghi ngờ về người Ga-ba-ôn.

77)But by not asking the Lord for discernment and wisdom, he did not follow correctly on his suspicions.

Nhưng vì không xin Chúa sự sáng suốt và khôn ngoan, nên ông đã không đi đúng theo sự nghi ngờ của mình.

78)The book of James, chapter 4 says, [note for translator: the complete reference is James 4:2]

Sách Gia-cơ đoạn bốn chép rằng,                                   

79)“You have not because you ask not.”

“Anh em chẳng được chi, vì không cầu xin.”                               

80)In James chapter 1 verse 5,

Trong Gia-cơ đoạn một câu năm,                                             

81)“If you lack wisdom ask God, and He will give it to you.”

“Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời, thì kẻ ấy sẽ được ban cho.”

82)My friend, I can tell you about the many times that I have failed to ask for discernment and wisdom and made mistakes in my life.

Thưa quý thính giả, tôi có thể nói với quý vị rằng rất nhiều lần tôi đã không cầu xin sự sáng suốt và khôn ngoan và đã phạm nhiều sai lầm trong cuộc đời mình.

83)The greatest danger for a child of God is summarized in the following words:

Mối nguy hiểm lớn nhất đối với con cái của Đức Chúa Trời được tóm gọn lại trong những từ sau:

84)“I can handle this.”

“Tôi có thể tự lo liệu được.”                                                  

85)“I can handle this drink.”

“Tôi có thể uống được.”                                        

86)“I can handle this wrong relationship.”

“Tôi có thể giải quyết được mối quan hệ sai lầm nầy.”

87)“I can handle this shady business deal.”

“Tôi có thể ký kết được hợp đồng kinh doanh mờ ám nầy.”

88)“I can handle this close friendship with ungodly.”

“Tôi có thể hành xử trong mối quan hệ thân thiết nầy với những người không tin kính.”

89)Listen to what F. B. Meyer once said.

Xin hãy lắng nghe điều F. B. Meyer đã từng nói.         

90)“Christians are tempted more by the wiles of Satan than by his open assault;

“Cơ đốc nhân bị cám dỗ bởi mưu chước của Sa-tan nhiều hơn là bởi sự tấn công rõ ràng của chúng;

91)more by the deceitfulness of sin than by its declared war.”

Bởi sự lừa dối của tội lỗi nhiều hơn là bởi chiến trận công khai.”

92)Only prayer will keep you alert to the subtle deception of sin and Satan.

Chỉ có sự cầu nguyện mới giúp giữ quý vị cảnh giác với sự lừa dối tinh vi của tội lỗi và Sa-tan.

93)Only prayer will give you discernment against flattering words.

Chỉ có sự cầu nguyện mới đem lại cho quý vị sự sáng suốt đối với những lời nịnh hót.

94)Only prayer will guard you against the scheming of the ungodly.

Chỉ có sự cầu nguyện mới bảo vệ quý vị khỏi mưu chước của những người không tin kính.

95)And that is why Jesus taught us to pray, “Our Father, deliver us from the evil one.”

Và chính vì thế Đức Chúa Giê-xu đã dạy chúng ta cầu nguyện, “Lạy Cha, xin cứu chúng con khỏi kẻ ác.”

96)When you embark on following God’s plan for your life,

Khi quý vị dấn thân đi theo kế hoạch của Đức Chúa Trời cho đời sống mình,

97)when you embark on living for Christ,

khi quý vị dấn thân sống cho Đấng Christ,                             

98)when you embark on being an ambassador for Christ,

khi quý vị dấn thân làm một đại sứ cho Đấng Christ,              

99)you must lean on God’s wisdom and the power in prayer.

Quý vị phải nương dựa vào sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời và năng quyền trong sự cầu nguyện.

SECTION B

1)     Otherwise, you will risk many failures.

Nếu không, quý vị sẽ có nguy cơ gặp nhiều thất bại.

2)     When you enter into a business relationship or a marriage or a ministry,

Khi quý vị bước vào một mối quan hệ kinh doanh hay một cuộc hôn nhân hay trong một chức vụ,

3)     you must consult your heavenly Father.

Quý vị phải cầu hỏi ý kiến Cha thiên thượng của mình.                             

4)     Otherwise, you will risk being deceived by the enemy.

Nếu không, quý vị sẽ có nguy cơ bị lừa dối bởi kẻ thù.         

5)     And I want to end this message today by sharing with you how to deal with the aftermath of deception.

Và tôi muốn kết thúc sứ điệp hôm nay bằng cách chia xẻ với quý vị làm thế nào để đối phó với những hậu quả của sự lừa dối.

6)     After God’s people discovered the enemy had deceived them, they wanted revenge.

Sau khi dân sự của Đức Chúa Trời đã khám phá ra rằng kẻ thù đã lừa dối mình, họ đã muốn báo thù.

7)     The people felt that because the peace covenant was created under deception, the enemy did not deserve to live.

Dân sự cảm thấy như vậy bởi vì giao ước hòa bình đã được lập ra trong sự lừa dối, kẻ thù không đáng được sống.

8)     But the leaders acted with integrity and kept their word to the Gibeonites that they would live in peace.

Nhưng những người lãnh đạo đã hành động cách chính trực và giữ lời hứa với người Ga-ba-ôn rằng họ sẽ sống trong hòa bình.

9)     Even though the leaders of God’s people were humiliated,

Mặc dầu những người lãnh đạo của dân sự Đức Chúa Trời phải chịu mất mặt,

10)they did not want to bring disgrace upon God and His people by breaking the peace covenant.

Họ không muốn đem sự ô nhục lên Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài bằng cách phá vỡ giao ước hòa bình.

11)Of course, that does not mean that the enemy was not punished for their deception,

Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là kẻ thù không bị trừng phạt vì sự lừa dối của họ,

12)but the covenant was not broken.

Nhưng hiệp ước thì không bị phá vỡ.                                    

13)Joshua and the leaders knew their testimony was more important than revenge.

Giô-suê và những người lãnh đạo biết rằng lời chứng của họ là quan trọng hơn sự báo thù.

14)The Bible teaches us that, after sin and failure, repentance must take place.

Kinh Thánh dạy chúng ta rằng, sau tội lỗi và thất bại, phải có sự ăn năn.

15)After sin and failure take place, acceptance of the consequences of sin is a greater testimony than words.

Sau khi tội lỗi và thất bại xảy ra, việc chấp nhận những hậu quả của tội lỗi là một lời chứng tốt hơn lời nói.                                     

16)Someone may be listening today who had fallen into sin as a result of another person’s deception.

Một vài người đang lắng nghe hôm nay đã bị sa vào tội lỗi vì sự lừa dối của một người khác.

17)There may be someone who’s listening today who may be suffering gravely as a result of past failure.

Có lẽ một ai đó đang lắng nghe hôm nay có thể đang phải chịu đựng cách nặng nề những hậu quả của thất bại trong quá khứ.

18)My listening friend, I want to tell you, it does not honor God for you to stay in your failure or become bitter toward the deceiver.

Thưa quý thính giả, tôi muốn nói với quý vị, danh Đức Chúa Trời không được tôn cao khi quý vị cứ ở trong sự thất bại hay trở nên cay đắng với người đã lừa dối mình.

19)It does not honor God for you to live in regret or give up your passion for Christ.

Danh Đức Chúa Trời không được tôn cao khi quý vị sống trong sự nuối tiếc hay từ bỏ tình yêu của mình cho Đấng Christ.

20)When you ask God for forgiveness, you will persevere.

Khi quý vị xin Đức Chúa Trời tha thứ, quý vị sẽ kiên nhẫn.                

21)God can bring triumph out of tragedy.

Đức Chúa Trời có thể đem khải hoàn ra từ bi kịch.                              

22)God can bring joy out of sorrow.

Đức Chúa Trời có thể đem niềm vui ra từ nỗi buồn.

23)God can bring hope out of despair.

Đức Chúa Trời có thể đem hy vọng ra từ tuyệt vọng.         

24)God can bring light out of darkness.

Đức Chúa Trời có thể đem ánh sáng ra từ tối tăm.                   

25)And God can bring gladness out of sadness.

Và Đức Chúa Trời có thể đem vui mừng ra từ buồn rầu.

26)I pray that you will always seek discernment and wisdom from God so that you may conquer deception.

Tôi cầu nguyện rằng quý vị sẽ luôn tìm kiếm sự sáng suốt và khôn ngoan từ Đức Chúa Trời để quý vị có thể chiến thắng sự lừa dối.

27)Until next time, I wish you God’s richest blessing.

Cho đến lần phát thanh kế tiếp, tôi cầu xin Đức Chúa Trời ban phước dư dật trên quý vị.

 

LỜI KẾT: Có một câu ngạn ngữ nói rằng người sanh ra trước bạn một ngày thì khôn hơn bạn một năm.  Chúng ta không biết câu nói nầy đúng được bao nhiêu, nhưng theo lẽ thường thì nó đúng.  Những người đi trước thường có nhiều kinh nghiệm, hiểu biết hơn những người mới chập chững theo sau. Chính từ chỗ nầy, có một điều người tin Chúa cần biết.  Dầu chúng ta có khôn ngoan, học thức đến đâu đi nữa thì chúng ta cũng không phải là đối thủ của ma quỉ.  Những người lớn tuổi nhất trong chúng ta có thể sống đến xấp xỉ một trăm tuổi nhưng không thể tin cậy được vì đa số những người tuổi cao thường lẩm cẩm vào cuối cuộc đời.  Nhưng nếu tính tuổi thì ma quỉ không phải chỉ có hàng ngàn năm tuổi, mà còn nhiều hơn thế, phải tính tuổi của nó từ thuở khai thiên lập địa.  Ma quỉ thật là tinh khôn và có một từ mô tả nó rất chính xác. Đó là từ ‘quỉ quyệt.’ Chính vì bản chất quỉ quyệt, ma quỉ thường tìm cách lừa dối nhân loại.  Đầu tiên nó đã lừa dối A-đam và Ê-va.  Về sau nó lừa dối toàn thể những con người trên mặt đất.  Hết thảy những người không tin Chúa đều đang sống trong sự lừa dối của Sa-tan.  Chúng ta tạ ơn Chúa vì mình đã được giải thoát ra khỏi sự lừa dối vĩ đại đó để bước vào nếp sống mới tự do trong Đấng Christ.  Nhưng có một sự thật không thể bỏ qua.  Đó là lắm lúc chúng ta tẻ bước đi theo ý riêng của mình.  Ngay lúc đó, ma quỉ xuất hiện để lừa dối mà chúng ta không chút nghi ngờ nào cả. Cách tốt nhất để phân biệt được đâu là sự thật, đâu là sự lừa dối là chúng ta phải đến gần Chúa, sống trong mối tương giao thân mật với Ngài, cầu hỏi ý Ngài trong mọi sự.  Chỉ có như thế chúng ta mới không bị ma quỉ lừa dối, không phải chịu đựng những hậu quả cay đắng của sự lừa dối, và sống đường hoàng như những chứng nhân kết quả cho Chúa và Cứu Chúa của mình.


Họ và tên (*) Email (*)
Hiển thị email
Nội dung
 

Portrait of Grace - part 05 of 08 Chân dung ân điển - Phần 05
Portrait of Grace - part 04 of 08 Chân dung Ân Điển - Phần 04
Portrait of Grace - part 03 of 08 Chân dung Ân Điển - Phần 03
Portrait of Grace - part 02 of 08 Chân dung Ân điển - Phần 02
You want me to do what ?- Part 12 of 12 Ngài muốn con làm gì ? - Phần 12
You want me to do what ?- Part 11 of 12 Ngài muốn con làm gì? - Phần 11
   Đăng nhập | Đăng ký