You want me to do what ?- Part 09 of 12

ENGLISH TRANSCRIPT FOR DUAL LANGUAGE BROADCAST

 

Leading the Way with Dr. Michael Youssef

 

“YOU WANT ME TO DO WHAT?”

Part 9 of 12

 

LỜI GIỚI THIỆU: Trần gian nầy có những điều nghe có vẻ thật bất công.  Một số người hết sức giàu có còn một số người khác hết sức nghèo khổ.  Một số người có ý tốt muốn làm cách nào đó để phân chia khối tài sản thế giới cho thật công bằng.  Nhưng ý định nầy không thể nào trở thành hiện thực vì nếu người ta chia đều cho mọi đầu người một số tài sản bằng nhau, thì mười năm sau, chúng ta lại thấy sự phân hóa giàu nghèo lại tiếp tục tái diễn.  Có nhiều lý do để giải thích điều nầy, nhưng không phải là điều chúng ta muốn nói ở đây.  Trong chương trình phát thanh hôm nay, chúng ta sẽ thấy dân Y-sơ-ra-ên đã chiếm xong đất hứa và bây giờ họ cùng nhau phân chia vùng đất nầy cho từng bộ tộc. Có bộ tộc nhận được nhiều đất đai hơn một số bộ tộc khác.  Điều nầy dường như không được công bằng lắm, nhưng trong sự phân phối của Đức Chúa Trời, Ngài biết mỗi bộ tộc cần bao nhiêu và có thể sử dụng bao nhiêu.  Ngoài yếu tố đó ra, chúng ta còn thấy có một yếu tố khác quyết định số lượng lãnh thổ mà từng người, từng bộ tộc sẽ nhận được.  Yếu tố nầy là gì?  Mục sư diễn giả sẽ nương nơi lời Chúa để trả lời cho chúng ta trong sứ điệp tiếp sau đây, với nhiều minh họa thật là xác đáng.  Kính mời quý thính giả quan tâm lắng nghe.

 

SECTION A

1)     Hello, listening friends, and welcome to this broadcast.

Xin kính chào quý thính giả, và xin có lời hoan nghênh quý vị đến với chương trình phát thanh nầy.

2)     We are nearing the end of this series of messages from the book of Joshua.

Chúng ta đang tiến đến gần phần cuối của loạt sứ điệp từ sách Giô-suê nầy.

3)     I hope that you have learned much about following the Lord Jesus in this series.

Tôi hy vọng rằng quý vị đã học hỏi được nhiều về việc đi theo Đức Chúa Giê-xu trong loạt sứ điệp nầy.

4)     Let’s review the answers to the question, “You want me to do what?”

Mời chúng ta cùng ôn lại những câu trả lời cho câu hỏi, "Ngài muốn con làm gì?"

5)     Answer number one is, step up to God’s calling in your life.

Câu trả lời thứ nhất là, tiến lên theo tiếng gọi của Đức Chúa Trời trong đời sống quý vị.

6)     Answer number two is, go into the enemy’s territories to share Christ.

Câu trả lời thứ hai là, tiến vào lãnh địa của kẻ thù để chia sẻ về Đấng Christ.

7)     Answer number three is, cross the river of impossibility in your life with God’s supernatural help.

Câu trả lời thứ ba là, băng qua dòng sông của những điều bất khả trong đời sống quý vị nhờ sự giúp đỡ siêu nhiên của Đức Chúa Trời.

8)     Answer number four is, yield to God’s plan.

Câu trả lời thứ tư là, vâng phục kế hoạch của Đức Chúa Trời.                             

9)     Answer number five is, stay with God’s program by completely trusting Him.

Câu trả lời thứ năm là, cứ tuân thủ chương trình của Đức Chúa Trời bằng cách hoàn toàn tin cậy Ngài.

10)Answer number six is, learn from your mistakes.

Câu trả lời thứ sáu là, học từ những lỗi lầm của quý vị.                 

11)Answer number seven is, know how to pray.

Câu trả lời thứ bảy là, biết cầu nguyện như thế nào.                                           

12)Answer number eight is, claim the complete victory God has already won for you.

Câu trả lời thứ tám là, công bố thắng lợi tuyệt đối mà Đức Chúa Trời đã chiến thắng cho quý vị.

13)And today, we will discover answer number nine,

Và hôm nay, chúng ta sẽ khám phá câu trả lời thứ chín,                                   

14)which is, trust in the cosmic real estate developer.

Đó là, tin cậy nơi nhà phát triển bất động sản vũ trụ.

15)And if you have a Bible with you, please turn to Joshua, chapters 13 all the way to 17.

Và nếu quý vị có Kinh Thánh, xin mở ra trong Giô-suê đoạn mười ba đến mười bảy.

16)I hope after the broadcast, you will have an opportunity to read these chapters.

Tôi hy vọng sau chương trình phát thanh nầy, quý vị sẽ có cơ hội để đọc những đoạn Kinh Thánh nầy.

17)And if you don’t have a Bible, please write to us and we’d love to send you one.

Và nếu quý vị không có Kinh Thánh, xin viết thư cho chúng tôi và chúng tôi sẽ rất vui được gửi cho quý vị một quyển.

18)After God’s people had crossed the river of impossibility and destroyed the walls of the fortified city,

Sau khi dân sự của Đức Chúa Trời đã băng qua dòng sông không thể vượt qua và phá hủy những vách thành kiên cố,

19)they claimed a complete victory.

Họ đã công bố thắng lợi tuyệt đối.           

20)And now we see, in chapter 13, that their next step was to divide the land of promise.

Và bây giờ chúng ta thấy trong đoạn mười ba, bước tiếp theo là họ phải phân chia vùng đất hứa.

21)God told them not only to conquer the land, but also to distribute the land among God’s people.

Đức Chúa Trời phán dặn họ không chỉ chinh phục đất, mà còn phải phân chia đất giữa vòng dân sự của Đức Chúa Trời.

22)And if you want to know how the land was divided, please read chapters 13-17 in the book of Joshua.

Và nếu quý vị muốn biết vùng đất hứa đã được phân chia như thế nào, xin đọc đoạn mười ba đến mười bảy trong sách Giô-suê.

23)Because of our limitations of time, I will not explain this in details.

Bởi vì thời gian của chúng ta có hạn, tôi sẽ không giải thích chi tiết việc nầy.

24)But the lesson here is of vital importance.

Nhưng bài học ở đây thì hết sức quan trọng.                   

25)God gives each one of us our territories based on our measure of faith.

Đức Chúa Trời ban cho mỗi người trong chúng ta một vùng lãnh thổ tùy thuộc vào lượng đức tin của chúng ta.

26)The Bible said that every good and perfect gift we have comes from the hand of God.

Kinh Thánh chép rằng mỗi món quà tốt và hoàn hảo chúng ta có đều đến từ bàn tay của Chúa.

27)The Bible said that when Jesus Christ ascended on high, He gave gifts to each one of His children.

Kinh Thánh chép rằng khi Đức Chúa Giê-xu Christ thăng thiên, Ngài ban ân tứ cho mỗi con cái Ngài.

28)The Bible said that God wants His children to use their gifts.

Kinh Thánh chép rằng Đức Chúa Trời muốn con cái Ngài sử dụng ân tứ của họ.

29)God wants His children to invest their gifts and put these gifts to work for God.

Đức Chúa Trời muốn con cái Ngài đầu tư những ân tứ nầy và dùng những ân tứ nầy để làm việc cho Chúa.

30)But some of you, my listening friends, may be asking, “How does God divide territories?”

Nhưng thưa quý thính giả, một vài người trong quý vị có thể hỏi rằng, “Đức Chúa Trời phân chia lãnh thổ như thế nào?”

31)“How do I know what my territory is?”

“Làm sao tôi biết được lãnh thổ của tôi ở đâu?”

32)The first thing you need to know is that God did not arbitrarily distribute these territories in the book of Joshua.

Điều đầu tiên quý vị cần biết đó là Đức Chúa Trời không tùy ý phân chia lãnh thổ trong sách Giô-suê.

33)God distributed the land based on each tribe’s faithfulness to God.

Đức Chúa Trời phân chia vùng đất dựa trên sự trung tín của mỗi chi phái đối với Ngài.

34)In fact, the distribution of these territories did not follow their normal customs.

Thật ra, sự phân chia những vùng lãnh thổ nầy không tuân theo những thông lệ bình thường của họ.

35)Let me illustrate this.

Tôi xin minh họa điều nầy.                                             

36)In the Old Testament days, the first born child receives a double portion of inheritance.

Vào thời Cựu Ước, người con đầu lòng nhận được một phần thừa kế gấp đôi.

37)But here, the tribe of Reuben, who was the first born of Jacob, did not receive a double portion of the land.

Nhưng ở đây, chi phái Ru-bên, vốn là con trai đầu lòng của Gia-cốp, đã không nhận được một phần đất gấp đôi.

38)But why not?

Tại sao lại không được?                                                      

39)Because Reuben sinned against his father.

Bởi vì Ru-bên đã phạm tội với cha mình.                                     

40)The Levites, who were the priests, received no land whatsoever.

Những người Lê-vi, là các thầy tế lễ, lại không nhận được đất.

41)Why not?

Tại sao lại không?                                                               

42)Because their territories are spiritual in nature and across all of the land.

Bởi vì lãnh thổ của họ có bản chất thuộc linh và xuyên suốt toàn vùng đất.

43)In the book of Joshua, chapter 14 verses 1-15, God gives Caleb a very special gift.

Trong sách Giô-suê đoạn mười bốn từ câu một đến câu mười lăm, Đức Chúa Trời ban cho Ca-lép một món quà hết sức đặc biệt.

44)But some of you maybe mistakenly think that God is being unfair and unjust.

Nhưng một vài người trong quý vị có thể nghĩ sai rằng Đức Chúa Trời đã thiên vị và không công bằng.

45)God was not trying to cause tension, jealousy, and envy among His people,

Đức Chúa Trời không cố gây nên sự căng thẳng, sự ghen tị và lòng đố kỵ giữa dân sự của Ngài,

46)but God sees the whole picture of our lives from beginning to end.

Nhưng Đức Chúa Trời nhìn thấy bức tranh toàn cảnh của cuộc đời chúng ta từ đầu tới cuối.

47)God knows the secrets and the motives of everyone’s heart.

Đức Chúa Trời biết những bí mật và những động cơ của từng tấm lòng con người.

48)What may seem unfair to us is very fair to God.

Điều có vẻ không công bằng đối với chúng ta lại là rất công bằng đối với Đức Chúa Trời.

49)Because God knows the details of people’s lives that we do not know.

Bởi vì Đức Chúa Trời biết những chi tiết của cuộc đời con người mà chúng ta không biết.

50)Ah, that is why God gives us our territories based on His foreknowledge.

A, chính vì thế Đức Chúa Trời ban lãnh thổ cho chúng ta dựa vào sự biết trước của Ngài.

51)God gives us our opportunities based on His omniscience.

Đức Chúa Trời ban cho chúng ta những cơ hội dựa trên sự toàn tri của Ngài.

52)God sets our boundaries based on His perfect knowledge, not our imperfect, selfish desires.

Đức Chúa Trời thiết lập biên giới của chúng ta dựa trên sự hiểu biết trọn vẹn của Ngài, chứ không phải trên những mong muốn bất toàn, ích kỷ của chúng ta.

53)But some of you may be also asking, “How can I receive more territories from God?”

Nhưng một vài người trong quý vị cũng có thể hỏi rằng, “Làm sao để tôi có thể nhận được nhiều phần lãnh thổ hơn nữa từ Đức Chúa Trời?”

54)Jesus answered that question very clearly.

Đức Chúa Giê-xu đã trả lời câu hỏi nầy rất rõ ràng.            

55)Listen to what He said,

Hãy lắng nghe điều Ngài đã dạy,                                      

56)“He who is faithful with little will be faithful with much.”

“Ai trung tín trong việc rất nhỏ, cũng trung tín trong việc lớn.”

57)This is how it works.

Điều đó xảy ra như thế nầy.                                       

58)When God gives you a small blessing,

Khi Đức Chúa Trời ban cho quý vị một ơn phước nhỏ,

59)when God gives you a small territory to work in,

khi Đức Chúa Trời ban cho quý vị một vùng lãnh thổ nho nhỏ để làm việc,

60)when God gives you a small opportunity to minister,

khi Đức Chúa Trời ban cho quý vị một cơ hội nhỏ để hầu việc,           

61)God is watching you.

Thì Đức Chúa Trời đang nhìn xem quý vị.

62)God is watching to see how you will handle the small blessing.

Đức Chúa Trời đang nhìn để xem thử quý vị sử dụng ơn phước nhỏ đó như thế nào.          

63)Why is that?

Tại sao lại như thế chứ?                                                                      

64)Because your future blessings and your future territories and your future opportunities will depend on how you handle the small bit that He has already given you.

Bởi vì những ơn phước tương lai và những vùng lãnh thổ tương lai và những cơ hội trong tương lai của quý vị phụ thuộc vào cách thức quý vị sử dụng một chút ít mà Ngài đã ban cho quý vị.

65)Jesus told the parable which we call, the parable of the talent.

Đức Chúa Giê-xu kể câu chuyện mà chúng ta gọi là, câu chuyện về các ta-lâng.

66)He said, “A master gave one of his servants ten talents, another five talents, and a third servant one talent.”

Ngài dạy, “Chủ cho người nầy mười ta-lâng, người kia năm, người khác một.”

67)Was the master unfair?

Có phải người chủ không công bằng không?                         

68)No.

Không phải đâu.                                                                                

69)The master knew their hearts and how each would respond.

Người chủ biết tấm lòng của họ và cách họ sẽ đáp lại.

70)The servant with ten talents invested wisely and returned with ten additional talents.

Người đầy tớ có mười ta-lâng đã đầu tư khôn ngoan và trở lại với thêm mười ta-lâng nữa.

71)The servant who received five talents also doubled his investment and returned with five sore talents.

Người đầy tớ đã nhận năm ta-lâng cũng đã làm được gấp đôi số đầu tư của mình và trở lại với thêm năm ta-lâng tâm huyết nữa.

72)And the master commended both servants equally.

Và người chủ đã khen cả hai đầy tớ nầy như nhau.

73)He never expected the man with five talents to return as much as the man with the ten talents.

Người chủ không bao giờ trông đợi người đầy tớ có năm ta-lâng sẽ đem về số lợi tức nhiều bằng người có mười ta-lâng.

74)But the man who had one talent did not invest his talent. Instead, he felt sorry for himself.

Nhưng người đầy tớ có một ta-lâng đã không đầu tư ta-lâng của mình. Thay vào đó, anh ta lại thấy thương hại cho chính mình.

75)Can you imagine that servant saying, “Poor me. I didn’t get as much as they did. I feel insulted and distrusted and slighted.

Xin quý vị thử hình dung người đầy tớ đó nói, “Đáng thương cho tôi. Tôi đã không nhận được nhiều như họ. Tôi cảm thấy mình bị xúc phạm và không được tin cậy và bị xem thường.

76)Why didn’t I receive five or ten or even more?

Sao tôi lại không được nhận năm hay mười hay hơn nữa chứ?

77)I have been treated unfairly and unjustly.”

Tôi đã bị đối xử thiên vị và bất công.”          

78)So the servant bundled his one talent and buried it and did nothing with it.

Vì vậy người đầy tớ nầy đã gói ta-lâng duy nhất của mình lại và đem chôn và đã không sử dụng ta-lâng đó.

79)What do you think, my listening friend, would this man have reacted differently if he had been given ten or even twenty talents?

Thưa quý thính giả, quý vị nghĩ sao, liệu người đầy tớ nầy sẽ hành động khác hơn nếu anh ta được giao cho mười hay thậm chí hai mươi ta-lâng không?

80)No.

Không có đâu.                                                                                     

81)That is why Jesus said the one who’s going to be faithful with the small blessings,

Chính vì thế Đức Chúa Giê-xu đã dạy người nào trung tín với những ơn phước nhỏ,

82)the one who’s faithful with the small territories and the small opportunities,

người nào trung tín với những vùng lãnh thổ nhỏ và những cơ hội nhỏ,

83)is going to be faithful with the big things and therefore will be entrusted with bigger things.

Sẽ trung tín trong những việc lớn và vì vậy sẽ được tín nhiệm trong những việc lớn hơn.

84)So the question here in the book of Joshua chapter 14 is this—

Vì vậy câu hỏi ở đây trong sách Giô-suê đoạn mười bốn là như thế nầy

85)why was Caleb singled out and honored by God?

Tại sao Ca-lép được chọn lựa ra và được Chúa nhắc lên cao?

86)Ah, let me tell you about Caleb.

A, tôi xin nói với quý vị về Ca-lép.                                    

87)When Moses and God’s people were in the wilderness,

Khi Môi-se và dân sự của Đức Chúa Trời còn ở trong đồng vắng,

88)one person from each of the twelve tribes were sent to survey the Promised Land.

Mỗi chi phái có một người được cử đi do thám Đất Hứa.

89)Ten of the twelve men reported that the land was unsafe.

Mười trong số mười hai người đã báo cáo rằng vùng đất nầy không an toàn.

90)They said, “The land is full of giants and we cannot fight them.”

Họ nói, “Vùng đất nầy đầy những người khổng lồ và chúng ta không thể chiến đấu lại họ.”

91)But the other two men were Joshua and Caleb.

Nhưng hai người còn lại là Giô-suê và Ca-lép.                                    

92)They told Moses, “Yes, there were giants in the land, but what are they before our big God?

Họ nói với Môi-se, “Đúng, có những người khổng lồ trong vùng đất nầy, nhưng trước mặt Đức Chúa Trời họ có là gì đâu?

93)And furthermore, we have God’s own promise to go with us.”

Và hơn nữa, chúng ta có chính lời hứa của Đức Chúa Trời ở với chúng ta.”

94)My listening friend, you need to know that God loves people who trust in His promises.

Thưa quý thính giả, quý vị cần biết rằng Đức Chúa Trời yêu mến những người nào tin cậy nơi lời hứa của Ngài.

95)God loves risk-taking faith.

Đức Chúa Trời ưa thích đức tin chấp nhận mạo hiểm.                            

96)God is honored by a childlike trust in Him.

Đức Chúa Trời được tôn cao bởi lòng tin nơi Ngài như con trẻ.

97)Ten spies saw giants, but Caleb saw dwarfs.

Mười thám tử nhìn thấy những người khổng lồ, nhưng Ca-lép nhìn thấy những chú lùn.

98)Ten spies saw obstacles, but Caleb saw the God of promise.

Mười thám tử nhìn thấy những trở ngại, nhưng Ca-lép nhìn thấy lời hứa của Đức Chúa Trời.

99)Ten spies saw fear and terror, but Caleb saw the God of faith and power.

Mười thám tử nhìn thấy sự sợ hãi và kinh khiếp, nhưng Ca-lép nhìn thấy Đức Chúa Trời thành tín và quyền năng.

SECTION B

1)     Ten spies saw only defeat, but Caleb said, “I trust in the God of victory.”

Mười thám tử chỉ nhìn thấy thất bại, nhưng Ca-lép nói, “Tôi tin cậy nơi Đức Chúa Trời đắc thắng.”

2)     Ten spies saw a bleak future, but Caleb saw the God who controls the future.

Mười thám tử nhìn thấy một tương lai ảm đạm, nhưng Ca-lép nhìn thấy Đức Chúa Trời là Đấng nắm giữ tương lai.

3)     Ten spies saw hopelessness, but Caleb saw the God of all hope.

Mười thám tử nhìn thấy tình cảnh vô vọng, nhưng Ca-lép nhìn thấy Đức Chúa Trời của mọi hy vọng.

4)     And even forty five years later, Caleb still had faith in God’s promises.

Và thậm chí bốn mươi năm sau đó, Ca-lép vẫn giữ đức tin nơi những lời hứa của Đức Chúa Trời.

5)     Listen to what Caleb said in the book of Joshua, chapter 14 verse 12.

Xin hãy lắng nghe lời Ca-lép đã nói trong sách Giô-suê đoạn mười bốn câu mười hai.                         

6)     “Give me that mountain filled with giants so I can fight them.

“Hãy ban cho tôi ngọn núi đầy dẫy những người khổng lồ để tôi chiến trận với họ.                                          

7)     I may be nearly ninety years old, but I feel stronger today than when I was in my forties.”

Tôi đã gần chín mươi tuổi rồi, nhưng ngày nay tôi thấy mạnh mẽ hơn khi tôi bốn mươi.”

8)     My listening friend, I don’t want you to miss this point.

Thưa quý thính giả, tôi không muốn quý vị bỏ lỡ điểm nầy.               

9)     Caleb’s unshakable faith was willing to wait for forty-five years.

Đức tin không lay động của Ca-lép đã sẵn sàng chờ đợi đến bốn mươi lăm năm.

10)Caleb never gave up on the promises of God.

Ca-lép chưa bao giờ từ bỏ lòng trông cậy nơi lời hứa của Đức Chúa Trời.

11)Caleb never wavered in his faith in God.

Đức tin nơi Đức Chúa Trời của Ca-lép chưa bao giờ lung lay

12)Caleb never stopped working and waiting for God.

Ca-lép chưa bao giờ ngưng hầu việc và chờ đợi Đức Chúa Trời.    

13)Caleb was almost ninety years old, but was ready for one more fight.

Ca-lép đã gần chín mươi tuổi, nhưng vẫn sẵn sàng cho một cuộc chiến nữa.

14)Caleb was ready to fight the giants and claim that hill for God.

Ca-lép sẵn sàng chiến trận với những người khổng lồ và chinh phục vùng đồi đó cho Đức Chúa Trời.

15)So let me repeat the question that you may be still asking in your mind.

Vì vậy tôi xin lặp lại câu hỏi mà có lẽ quý vị vẫn đang nghi vấn trong tâm trí.

16)“How do I increase my territory for God?”

“Làm sao để tôi gia tăng lãnh thổ của mình cho Đức Chúa Trời?”

17)Jesus said to be faithful with little things and you will be entrusted with the big things.

Đức Chúa Giê-xu dạy hãy trung tín trong những việc nhỏ và quý vị sẽ được giao phó những việc lớn hơn.

18)And Caleb is a great example.

Và ca-lép là một ví dụ điển hình.                       

19)Caleb could have said, “Give me that valley so that I may take it easy.”

Ca-lép đã có thể nói, “Hãy ban cho tôi vùng thung lũng để tôi chiếm lấy dễ hơn.”

20)Caleb could have said, “Give me that lush land so that I may finish my years in comfort.”

Ca-lép đã có thể nói, “Hãy ban cho tôi vùng đất tươi tốt đó để tôi có thể an hưởng tuổi già.”

21)He could have said, “I worked hard all my life and now I need to get a well deserved rest.”

Ong đã có thể nói, “Tôi đã làm việc khó nhọc trọn đời mình và bây giờ tôi cần một sự nghỉ ngơi xứng đáng.”

22)No way. Caleb said, “Give me that rugged mountain.”

Không phải như vậy.  Ca-lép đã nói, “Hãy ban cho tôi vùng núi non hiểm trở đó.”

23)Caleb said, “Give me that tough assignment that no one else wants to do.”

Ca-lép đã nói, “Hãy ban cho tôi phần công tác khó khăn mà không ai muốn làm đó.”

24)Somebody said that you can tell a man’s size by the size of the challenge that he undertakes.

Có người nói rằng quý vị có thể biết được tầm vóc của một người bởi tầm vóc của những thách thức mà người đó gánh vác.

25)And Caleb chose the ominous challenge.

Và Ca-lép đã lựa chọn một thách thức đáng ngại.

26)Not because Caleb was arrogant or trusted in his own abilities,

Không phải bởi vì Ca-lép kiêu ngạo hay tự tin vào khả năng của bản thân mình,

27)but because Caleb trusted in the power of his God.

Nhưng bởi vì Ca-lép tin cậy nơi quyền năng của Đức Chúa Trời mình.  

28)Caleb had confidence in the promises of his God.

Ca-lép tin chắc nơi những lời hứa của Đức Chúa Trời mình.               

29)My listening friends, please listen carefully as we conclude.

Thưa quý thính giả, xin lắng nghe thật kỹ phần kết luận của chúng tôi.

30)There are plenty of unoccupied territories in the kingdom of God.

Có rất nhiều vùng lãnh thổ chưa được chiếm hữu trong vương quốc của Đức Chúa Trời.

31)And the question is this—

Và câu hỏi là như thế nầy                          

32)will you say with Caleb, “Lord, give me that mountain?”

quý vị sẽ cùng nói với Ca-lép, “Lạy Chúa, xin ban cho con vùng núi đó,”

33)Or will you say, “Give me that valley.”

Hay quý vị sẽ nói, “Xin ban cho con vùng thung lũng đó?”                     

34)I pray that you will joyfully seek the work of the Lord.

Tôi cầu nguyện rằng quý vị sẽ vui mừng theo đuổi công việc của Chúa.

35)Until next time, I wish you God’s richest blessing.

Hẹn gặp lại lần sau, tôi cầu xin Đức Chúa Trời ban phước dư dật trên quý vị.

 

         LỜI KẾT:  Có một câu rất đáng để ý trong câu chuyện về các ta lâng mà chúng ta lại ít để ý đến.  Câu chuyện cho biết rằng người chủ phân phối số ta-lâng cho các đầy tớ mình nhiều hay ít tùy theo tài của mỗi người.  Điều nầy có nghĩa là nếu giao cho người đầy tớ kém tài một số ta-lâng bằng người lắm tài, thì đó là một sự phung phí vì người đó sẽ không sử dụng được hết, không sinh lợi đúng như mong muốn.  Mục sư diễn giả đã cho chúng ta biết rằng số ta-lâng được giao cho tùy theo sự trung tín của người đầy tớ.  Ai trung tín trong việc nhỏ thì mới có thể trung tín trong việc lớn, và mới có thể được giao cho quản lý nhiều hơn.  Nguyên tắc nầy được minh họa qua câu chuyện cuộc đời của Ca-lep, người anh hùng đức tin trong giai đoạn chiếm lấy đất hứa. Vì ông có đức tin, vì ông có lòng trung tín trọn thành với Đức Chúa Trời, nên ông được giao cho nhiều hơn những người khác, những gia đình khác.  Nhưng ông không nhận lấy phần cơ nghiệp của mình như một thứ phần thưởng dành cho người có công. Ông tự mình đánh chiếm lấy vùng đất được giao cho mình làm sản nghiệp.  Vấn đề đặt ra cho nhiều người ngày nay không phải là sự đãi ngộ của giáo hội đối với công lao của họ, mà là phần công tác họ có thể tiếp tục thi hành ở trước mặt Đức Chúa Trời và Hội Thánh Ngài. Một mục sư đã nói rằng phần thưởng dành cho người hầu việc Chúa là được hầu việc Chúa nhiều hơn.  Chúng ta thấy điều nầy trong cuộc đời Ca-lep.  Chúng ta có muốn trung tín bây giờ để sau nầy được hầu việc Chúa nhiều hơn không?

 


Họ và tên (*) Email (*)
Hiển thị email
Nội dung
 

Portrait of Grace - part 05 of 08 Chân dung ân điển - Phần 05
Portrait of Grace - part 04 of 08 Chân dung Ân Điển - Phần 04
Portrait of Grace - part 03 of 08 Chân dung Ân Điển - Phần 03
Portrait of Grace - part 02 of 08 Chân dung Ân điển - Phần 02
You want me to do what ?- Part 12 of 12 Ngài muốn con làm gì ? - Phần 12
You want me to do what ?- Part 11 of 12 Ngài muốn con làm gì? - Phần 11
   Đăng nhập | Đăng ký