You want me to do what ?- Part 11 of 12

ENGLISH TRANSCRIPT FOR DUAL LANGUAGE BROADCAST

 

Leading the Way with Dr. Michael Youssef

 

“YOU WANT ME TO DO WHAT?”

Part 11 of 12

 

LỜI GIỚI THIỆU: Trên đời nầy có những kẻ phạm tội đáng chết và đáng chết hàng ngàn lần nếu có thể làm được như thế.  Nhưng luật pháp chỉ có thể thi hành án tử hình một lần duy nhất với kẻ phạm tội mà thôi.  Tội lỗi thì đáng bị trừng phạt tương xứng.  Nhưng cũng phải thừa nhận rằng có những tội không cố ý.  Vì một lý do nào đó, người ta đã phạm tội mà không có ý định làm như thế, ví dụ như có người vô tình làm người khác bị chết.  Lẽ ra những người nầy có thể được tha bổng nếu xét thấy điều đó là đúng. Nhưng luật pháp thì không có lòng thương xót.  Người ta căn cứ vào luật để thi hành và sự xét xử của tòa án loài người nhiều khi không được chính xác. Dầu vậy, trong ân điển của Đức Chúa Trời, Ngài đã có tính đến những yếu tố khách quan khi một người vì vô ý mà mắc vào một tội nào đó, nhất là tội sát nhân không cố ý, còn gọi là ngộ sát.  Theo luật pháp, nếu kẻ nào cố tình giết một người thì phải bị tử hình.  Nhưng người mắc tội ngộ sát thì có một cơ hội để được sống sót.  Chính vì thế Đức Chúa Trời đã truyền lệnh một lần thứ tư cho Giô-suê lập những thành ẩn náu cho dân sự của Chúa ở rải rác khắp cả nước. Ở xứ Pa-lét-tin có tập tục báo thù huyết.  Nếu có một ai đó giết chết một người, thì thân nhân người đó có quyền báo thù bằng cách giết lại kẻ đã giết chết người nhà mình.  Điều nầy là một sự thiếu công bằng đối với một kẻ ngộ sát.  Chính vì thế những thành ẩn náu được lập ra để kẻ ngộ sát có nơi trú thân trong khi chờ xét xử và tránh khỏi sự báo thù.  Đức Chúa Trời lo liệu cho dân Ngài từ việc nhỏ cho đến việc lớn, từ việc dân sự cho đến việc hình sự.  Luật pháp của Ngài là công bằng nhưng cũng đầy sự thương xót và ân điển. Theo quy định, kẻ ngộ sát được sống tại thành ẩn náu cho đến khi thầy tế lễ thượng phẩm đương niên qua đời.  Điều nầy để lại cho chúng ta một bài học quan trọng về sự cứu chuộc trong sự hi sinh đền tội của Đức Chúa Giê-xu Christ, là thầy tế lễ thượng phẩm đời đời của chúng ta.  Trong chương trình phát thanh hôm nay, căn cứ trên lời dạy về các thành ẩn náu, mục sư diễn giả sẽ trình bày cùng chúng ta nội dung và ý nghĩa sâu xa trong những quy định nầy. Nếu quý vị là những người quan tâm đến việc thực thi sự công bằng trên đất, thì chương trình nầy rất thích hợp cho quý vị. Kính mời quý vị lưu tâm tiếp tục lắng nghe.

 

SECTION A

1)     Hello, listening friends, and welcome to this broadcast.

Xin kính chào quý thính giả, và xin có lời hoan nghênh quý vị đến với chương trình phát thanh nầy.                    

2)     This is the second to last broadcast in this series of messages from the book of Joshua.

Đây là chương trình phát thanh áp chót trong loạt sứ điệp từ sách Giô-suê nầy.

3)     In this series, we are learning how to follow God’s plan for our life.

Trong loạt sứ điệp nầy, chúng ta đang học làm thế nào để vâng theo kế hoạch của Đức Chúa Trời cho đời sống chúng ta.

4)     And sometimes, in following God’s plan in our lives, we are forced to ask Him, “You want me to do what?”

Và đôi khi, khi đi theo kế hoạch của Đức Chúa Trời trong đời sống mình, chúng ta buộc phải hỏi Ngài rằng, "Ngài muốn con làm gì?"

5)     In my personal experience, I have seen two types of people.

Theo kinh nghiệm cá nhân của tôi, tôi đã gặp hai loại người.        

6)     There are those who run from their heavenly Father when they sin and disobey,

Có những người chạy trốn khỏi Cha thiên thượng của họ khi họ phạm tội và không vâng lời,

7)     and those who run to their heavenly Father when they are convicted of their sin and rebellion.

Và những người chạy đến với Cha thiên thượng khi họ bị cáo trách về tội lỗi cùng sự phản loạn của mình.

8)     Your reaction to your disobedience depends on how you view your heavenly Father.

Phản ứng của quý vị đối với sự không vâng lời của mình phụ thuộc vào cách quý vị nhìn Cha thiên thượng của mình.

9)     Do you view Him as a vindictive, arbitrary, angry God?

Quý vị có nhìn xem Ngài như một Đức Chúa Trời hay báo thù, độc đoán, hay nổi giận không?

10)Do you think God will punish you when you seek forgiveness and so you run away from Him?

Quý vị có nghĩ Đức Chúa Trời sẽ trừng phạt mình khi quý vị tìm kiếm sự tha thứ và vì vậy quý vị chạy trốn khỏi Ngài không?

11)Or do you see Him as full of mercy, full of grace and compassion to the repentant sinner?

Hay quý vị nhìn xem Ngài đầy lòng thương xót, đầy ân điển và tình yêu đối với tội nhân ăn năn?

12)Now here’s the problem.

Vấn đề nằm ở chỗ nầy.                                                       

13)Many people equate their relationship with our heavenly Father with their relationship with their earthly father.

Nhiều người đánh đồng mối quan hệ của họ với Cha thiên thượng của chúng ta với mối quan hệ với cha trên đất của họ.

14)My listening friend, that’s a big mistake.

Thưa quý thính giả, đó là một sai lầm lớn.                                             

15)Whether your earthly father was gentle or harsh,

Dù cho cha trên đất của quý vị có dịu dàng hay cộc cằn,

16)whether your earthy father was kind or unkind,

dù cho cha trên đất của quý vị ân cần hay không ân cần,

17)whether your earthly father was merciful or not,

dù cho cha trên đất của quý vị đầy lòng nhân từ hay không,

18)whether your relationship with your earthly father was good or bad,

dù cho mối quan hệ của quý vị với cha trên đất của quý vị tốt hay không tốt,

19)do not equate your earthly father with your heavenly Father.

Thì cũng đừng sánh ngang cha trên đất của quý vị với Cha thiên thượng.

20)The only way to truly know what God the Father is like is to read His Word in the Bible.

Cách duy nhất để biết Đức Chúa Trời là Cha như thế nào là phải đọc lời của Ngài trong Kinh Thánh.

21)The only manifestation of what our heavenly Father is like is in the Lord Jesus Christ, God’s Son.

Sự bày tỏ duy nhất để biết Cha thiên thượng của mình như thế nào ở trong Chúa Giê-xu Christ, Con của Đức Chúa Trời.

22)In the book of Joshua, chapter 20, we see a glorious glimpse of the character of our heavenly Father.

Trong sách Giô-suê đoạn hai mươi, chúng ta thấy một vinh quang thoáng qua trong bản tính của Cha thiên thượng của chúng ta.

23)Here in chapter 20, God instructs His people to exercise justice and compassion.

Ơ đây trong đoạn hai mươi, Đức Chúa Trời giáo huấn dân sự Ngài thực hành công lý và lòng thương xót.

24)How?

Như thế nào?                                                                                        

25)By building six cities of refuge.

Bằng cách xây dựng sáu thành ẩn náu.           

26)This was not a new concept to God’s people.

Đây không phải là một khái niệm mới đối với dân sự của Đức Chúa Trời.

27)God has already given these instructions in Exodus 21, Numbers 35, and Deuteronomy 19.

Đức Chúa Trời đã từng ban những lời giáo huấn nầy trong Xuất-ê-díp-tô-ký đoạn hai mươi mốt, Dân số ký đoạn ba mươi lăm, và Phục truyền luật lệ ký đoạn mười chín.

28)Why would God stress the importance of building those cities of refuge four times in the Bible?

Tại sao Đức Chúa Trời lại nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng những thành ẩn náu nầy tới bốn lần trong Kinh Thánh?

29)Because God wanted to stress the sanctity of human life.

Bởi vì Đức Chúa Trời muốn nhấn mạnh đến tính cách thiêng liêng trong mạng sống của con người.

30)God wanted to impress upon His people the value that God places on every life.

Đức Chúa Trời muốn đóng dấu lên dân sự Ngài giá trị mà Ngài đã đặt lên mỗi cuộc đời.

31)God wanted to emphasize the seriousness of killing another person, even if the death was accidental.

Đức Chúa Trời muốn nhấn mạnh đến tính chất nghiêm trọng của việc giết một người khác, mặc dầu đó chỉ là ngộ sát.

32)The law of God required life for life.

Luật của Đức Chúa Trời đòi mạng đền mạng.                               

33)And the murderer was sentenced to death.

Và kẻ sát nhân phải bị tuyên án tử hình.                             

34)But if the death was accidental, the killer would not have to die.

Nhưng nếu đó chỉ là ngộ sát, kẻ giết người sẽ không phải chết.

35)He could go to the city of refuge.

Người đó có thể chạy đến thành ẩn náu.                

36)However, the danger for him would come from vengeful family members who would want to kill the offender.

Tuy nhiên, nguy hiểm cho người đó có thể đến từ những thành viên gia đình muốn báo thù bằng cách giết chết người đã vô tình phạm tội.

37)But God is the God of justice and mercy.

Nhưng Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của công lý và lòng thương xót.

38)So God told His people to build six cities of refuge throughout the Promised Land.

Vì vậy Đức Chúa Trời đã bảo dân sự Ngài xây dựng sáu thành ẩn náu trên khắp vùng Đất Hứa.

39)These cities were built to shelter and protect people who had unintentionally killed someone.

Những thành phố nầy được xây dựng để che chở và bảo vệ những người đã vô tình giết chết một ai đó.

40)And the roads to these cities of refuge were kept in excellent condition.

Và những con đường dẫn đến những thành ẩn náu nầy được duy trì trong điều kiện tốt nhất.

41)And the crossroad signs showing the way were clearly marked, “Refuge.”

Và những biển báo ở các đường giao nhau nhằm chỉ đường đều ghi rõ ràng là, “Thành ẩn náu.”

42)But that’s not all.

Nhưng như thế chưa phải là hết.           

43)Runners were also stationed along the road to guide the fugitives.

Những người giúp đỡ cũng đặt trạm dọc theo con đường để chỉ dẫn những người tìm kiếm sự ẩn náu.

44)The runners would point out the direction of the city of refuge.

Những người giúp đỡ sẽ chỉ hướng về thành ẩn náu.

45)These runners would support the fugitive during his journey to the city of refuge.

Những người giúp đỡ nầy sẽ hỗ trợ người tìm kiếm sự ẩn náu trong suốt hành trình đến thành ẩn náu.

46)These runners would guide him to the gates of the city of refuge.

Những người giúp đỡ nầy sẽ hướng dẫn người đó đến tận cổng của thành ẩn náu.

47)And once the fugitive arrived at the city,

Và một khi người tìm kiếm sự ẩn náu đã vào được trong thành,                 

48)the fugitive would present his case to the city elders who formed the court of law.

Người tìm kiếm sự ẩn náu sẽ trình bày trường hợp của mình với các trưởng lão của thành là những người có vai trò như tòa án.

49)The court would make a provisional decision to give him asylum until a proper trial was held.

Phiên tòa sẽ đưa ra một quyết định tạm thời để cho người nầy nơi nương náu cho đến khi một phiên xử chính thức được tiến hành.

50)If the manslayer was acquitted of premeditated murder,

Nếu kẻ giết người nầy được chứng minh là ngộ sát,

51)this man had to live in the city of refuge until the death of the high priest.

Thì người nầy phải sống trong thành ẩn náu đó cho đến khi thầy tế lễ thượng phẩm qua đời.

52)After the death of the high priest, that person was free to go home and live in freedom.

Sau khi thầy tế lễ thượng phẩm qua đời, người đó được phép về nhà và sống trong tự do.

53)My listening friend, I know some of you by now have some questions in your mind.

Thưa quý thính giả, tôi biết một số người trong quý vị hiện giờ đang có một vài câu hỏi trong tâm trí.

54)Some of you probably are asking, “Why is the man only free after the death of the high priest?”

Một vài người trong quý vị có lẽ đang hỏi rằng, “Tại sao người đó chỉ được tự do sau khi thầy tế lễ thượng phẩm qua đời?”

55)Ah, because the high priest’s death was the only ransom for the manslaughter’s charge.

À, bởi vì sự chết của thầy tế lễ thượng phẩm là của chuộc tội duy nhất cho sự cáo buộc của kẻ giết người.

56)The death of the high priest was the only redemption for the guilty charge.

Sự chết của thầy tế lễ thượng phẩm là của chuộc duy nhất cho giá phải trả của tội lỗi.

57)The death of the high priest was the only atonement for sin.

Sự chết của thầy tế lễ thượng phẩm là phương cách chuộc tội duy nhất.

58)The death of the high priest was the only satisfaction for justice.

Sự chết của thầy tế lễ thượng phẩm là sự thỏa mãn duy nhất dành cho công lý.

59)Can you see the importance of this, my listening friend?

Quý vị có thể thấy tầm quan trọng của điều nầy không, thưa quý thính giả?

60)Because that’s exactly how Jesus Christ acts on our behalf.

Bởi vì đó chính xác là điều Chúa Giê-xu Christ đã làm vì cớ chúng ta.          

61)You and I are guilty people.

Quý vị và tôi là những con người tội lỗi.            

62)We were born guilty of inherited sin from Adam.

Chúng ta sinh ra mang lấy nguyên tội từ A-đam.                               

63)We were guilty by breaking the law of God.

Chúng ta mắc tội vì đã vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời.        

64)We were guilty by living for self.

Chúng ta mắc tội vì chỉ sống cho bản ngã.                                                

65)We were guilty of ignoring and snubbing a holy God.

Chúng ta mắc tội vì đã phớt lờ và không tôn thờ một Đức Chúa Trời thánh.

66)Now whether we did this out of ignorance or full knowledge,

Bây giờ dù cho chúng ta làm như vậy vì sự vô tình hay có ý thức đầy đủ,

67)whether we did this deliberately or not,

dù cho chúng ta làm như vậy có cân nhắc hay không,                         

68)the courts of heaven have convened and they pronounced us guilty as charged.

Tòa án thiên đàng đã triệu tập và họ đã tuyên án chúng ta là mắc tội.

69)But perhaps some runner along the way told you that you can find the city of refuge.

Nhưng có lẽ vài người giúp đỡ dọc đường đã nói với quý vị rằng quý vị có thể tìm thấy thành ẩn náu.

70)You can find relief from guilt and escape from the grip of sin.

Quý vị có thể tìm thấy sự tha thứ khỏi tội lỗi và thoát khỏi sự cầm giữ của tội lỗi.

71)And when you arrived at the city of refuge, you received atonement and redemption because the great High Priest, Jesus Christ, died on the cross for you.

Và khi quý vị đến được thành ẩn náu, quý vị sẽ nhận được sự chuộc tội và sự cứu chuộc bởi vì thầy tế lễ thượng phẩm vĩ đại, là Đức Chúa Giê-xu Christ, đã chết trên thập giá cho quý vị.

72)Now I want to tell all my listening friends who have confessed Jesus Christ as their Lord and Savior,

Bây giờ tôi muốn nói với tất cả những thính giả nào đã xưng nhận Đức Chúa Giê-xu Christ là Chúa và Cứu Chúa của mình,

73)those who believe Jesus is the Son of God who came to earth as a man,

những ai tin rằng Đức Chúa Giê-xu là Con của Đức Chúa Trời đã xuống thế gian làm người,

74)those who believe that Jesus died for your sins and was resurrected on the third day,

những ai tin rằng Đức Chúa Giê-xu đã chết vì tội lỗi của họ và đã sống lại vào ngày thứ ba,

75)to those, I want to say that the reason you are redeemed is because the great High Priest died for you.

Với những người đó, tôi muốn nói rằng lý do quý vị được cứu chuộc là bởi vì thầy tế lễ thượng phẩm vĩ đại đã chết thay cho quý vị.

76)But there’s some more.

Nhưng vẫn còn nhiều hơn thế nữa.                                                          

77)For those of you who are redeemed, now you have become runners for others.

Đối với những ai trong quý vị đã được cứu chuộc, bây giờ quý vị đã trở nên người giúp đỡ cho những người khác.

78)We are the runners who point the way to the city of refuge.

Chúng ta là những người giúp đỡ để chỉ đường đến thành ẩn náu.

79)We are the runners who help others find escape from death.

Chúng ta là những người giúp đỡ nhằm giúp những người khác tìm ra lối thoát khỏi sự chết.

80)And that is why the Psalmist could look forward to the death of the great priest, Jesus, on the cross of Calvary, and say in Psalm 46 verse 1,

Và chính vì thế tác giả Thi Thiên có thể hướng cái nhìn của mình về phía sự chết của thầy tế lễ tối cao, là Đức Chúa Giê-xu, trên thập giá tại đồi Gô-gô-tha, và nói trong Thi Thiên bốn mươi sáu câu một rằng,

81)“God is our refuge and strength; an ever present help in time of trouble.”

“Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức lực của chúng tôi, Ngài sẵn giúp đỡ trong cơn gian truân.”

82)That is why the Apostle Paul could look back on the death of the great High Priest, Jesus, on the cross of Calvary and say in Romans 8 verse 1,

Chính vì thế sứ đồ Phao-lô có thể nhìn lại sự chết của thầy tế lễ thượng phẩm vĩ đại, là Đức Chúa Giê-xu, trên thập giá tại đồi Gô-gô-tha và nói trong Rô-ma đoạn tám câu một,

83)“Therefore, there is now no condemnation for those who are in Christ Jesus.”

“Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Giê-xu Christ.”

84)And that is why the writer of the epistle to the Hebrews in chapter 6 verse 18 could say to us,

Và chính vì thế trước giả của thư Hê-bơ-rơ có thể nói với chúng ta trong đoạn sáu câu mười tám,

85)“Having fled for refuge and laying hold of the hope set before us.”

“là kẻ đã trốn đến nơi ẩn náu, mà cầm lấy sự trông cậy đã đặt trước mặt chúng ta.”

86)And that is why, my listening friend, no one who is in Jesus Christ needs to fear the judgment to come.

Và chính vì thế, thưa quý thính giả, không có ai ở trong Đức Chúa Giê-xu Christ phải sợ hãi sự phán xét hầu đến.

87)My listening friends, let me ask you this question.

Thưa quý thính giả, tôi xin hỏi quý vị câu hỏi nầy.                                     

88)When you make great mistakes in your life, do you run away from the only refuge for forgiveness and healing?

Khi quý vị phạm phải những sai lầm lớn trong cuộc đời mình, quý vị có chạy khỏi thành ẩn náu duy nhất của sự tha thứ và chữa lành không?

89)Or do you run into the refuge of the great High Priest, Jesus, who died on the cross and rose again for you?

Hay là quý vị chạy vào thành ẩn náu của thầy tế lễ thượng phẩm vĩ đại, là Đức Chúa Giê-xu, Đấng đã chết trên thập giá và sống lại cho quý vị?

90)Today, you can enter into the city of refuge.

Hôm nay, quý vị có thể chạy vào thành ẩn náu đó.                                  

91)Pray to God and say, “Lord, I know I’m a sinner and I cannot reach heaven by my own attempts.

Hãy cầu nguyện với Đức Chúa Trời và nói, “Lạy Chúa, con biết mình là một tội nhân và con không thể vào được thiên đàng bằng nỗ lực riêng của con.

92)I believe that Your perfect Son, Jesus Christ, who is God of very God, came to the earth as a man

Con tin rằng Con toàn hảo của Ngài, là Đức Chúa Giê-xu Christ, là Đức Chúa Trời cao cả tuyệt đối, đã xuống thế gian làm người

93)so that He could sacrifice Himself for my sins by dying on a cross.

Để Ngài có thể hy sinh chính mình cho tội lỗi của con bằng cách chết trên thập tự giá.

94)Lord, I understand that the only way to be saved from eternal damnation is to accept Christ’s gift of salvation.

Lạy Chúa, con hiểu rằng cách duy nhất để được cứu khỏi sự rủa sả đời đời là phải tin nhận món quà cứu rỗi của Đấng Christ.

95)Lord, please forgive me of my sins.

Lạy Chúa, xin tha thứ những tội lỗi của con.  

96)Amen.”

Amen.”                                                                                   

97)Now for those of you who already follow Jesus Christ, let me ask you this.

Bây giờ đối với những ai trong quý vị đã đi theo Đức Chúa Giê-xu Christ, tôi xin hỏi quý vị điều nầy.

98)When you see people all around you who are desperate to find a city of refuge,

Khi quý vị thấy những người xung quanh mình đang tuyệt vọng cần tìm một thành ẩn náu,

99)do you become that signpost to the city of refuge, or do you keep silent?

Quý vị có trở nên biển chỉ đường đến thành ẩn náu không, hay quý vị giữ yên lặng?

SECTION B

1)     Are you running along the way, or have you abandoned your post?

Quý vị có đang chạy dọc theo con đường, hay quý vị đã từ bỏ vị trí của mình?

2)     Are you leading the way or have you lost your way?

Quý vị đang dẫn đường hay quý vị đã bị lạc đường?                           

3)     Today, you too can pray to God,

Hôm nay, quý vị cũng có thể cầu nguyện với Đức Chúa Trời,                              

4)     “Lord, make me a runner for you.”

“Lạy Chúa, xin khiến con thành một người giúp đỡ cho Chúa.”

5)     “Lord, make me a signpost to lead others to the city of refuge.”

“Lạy Chúa, xin khiến con làm một biển báo để đưa dẫn những người khác đến thành ẩn náu.”

6)     And my great hope, my listening friend, is that all of my listening friends will enter into the city of refuge and seek the great High Priest, Jesus,

Và thưa quý thính giả, hy vọng lớn của tôi, là tất cả những thân hữu đang lắng nghe sẽ bước vào thành ẩn náu và tìm kiếm thầy tế lễ thượng phẩm vĩ đại, là Đức Chúa Giê-xu,

7)     and then become runners and leading others who do not know Christ into the city of refuge.

Và rồi hãy trở thành những người giúp đỡ và đưa dẫn những người khác chưa biết về Đấng Christ bước vào thành ẩn náu.

8)     Until next time, I wish you God’s richest blessing.

Hẹn gặp lại lần sau, tôi cầu xin Đức Chúa Trời ban phước dư dật trên quý vị.

 

LỜI KẾT:  Kẻ ngộ sát cần một nơi ẩn náu.  Dân sự của Chúa đã xây dựng một hệ thống thành ẩn náu vì mục đích nầy. Kẻ ngộ sát phải sống tại thành ẩn náu cho đến khi thầy tế lễ thượng phẩm đương niên qua đời.  Như vậy, thời gian người đó cư trú tại thành ẩn náu tùy thuộc vào tuổi thọ của thầy tế lễ nầy. Sự chết của thầy tế lễ thượng phẩm đó được coi như là sự chết thay cho kẻ ngộ sát để người đó được tự do.  Chính vì vậy, thầy tế lễ đó là biểu tượng cho Đức Chúa Giê-xu Christ, là thầy tế lễ thượng phẩm đời đời. Khi Ngài chết trên thập tự giá, thì Ngài đền tội cho những kẻ phạm tội để họ có thể nhận được sự tha thứ và được tự do. Kinh Thánh cho biết mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.  Chính vì thế mọi người đều cần sự chết thay của thầy tế lễ lớn nầy.  Chính Ngài đã phán: “Nếu Đức Chúa Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ được tự do thật.” Tội lỗi phải bị trả giá bằng sự chết.  Không có đổ huyết thì cũng không có sự tha thứ.  Thay vì tội nhân phải đổ huyết vì tội lỗi mình, Đấng Christ đã đến và đứng vào chỗ của người đó, đổ huyết Ngài thay cho họ.  Nhờ đó, họ được tha tội và không cần phải chết nữa.  Nhưng sự tha tội không đến một cách miễn phí.  Kẻ ngộ sát phải chạy đến thành ẩn náu thì mới được an toàn. Người đó cũng chỉ được an toàn khi cứ tiếp tục sống dưới sự che chở của thầy tế lễ thượng phẩm đương niên.  Cũng một thể ấy, mặc dầu Đức Chúa Giê-xu Christ đã chết cho tội nhân, người đó phải đến với Ngài, ăn năn tội và sống dưới sự che chở của Ngài, là đấng đã chết, và đã sống lại để làm Chúa của người đó.  Chỉ có cách đó, và không có cách nào khác, người đó mới được vui hưởng sự tự do thật mà Chúa Giê-xu cung ứng.  Đó là tin tức tốt lành cho mọi người trên khắp thế giới nầy.  Nếu quý vị đã được giải phóng trong Đức Chúa Giê-xu Christ, quý vị là người tự do.  Nhưng vì quý vị đã hưởng được sự cứu rỗi của Ngài, quý vị có trách nhiệm đem sự cứu rỗi đó đến cho những người khác, là những người đang sống dưới ách nô lệ của tội lỗi. Còn nếu quý thính giả nào chưa có sự tự do đó, tức là quý vị chưa tin nhận Giê-xu Christ làm Cứu Chúa và Chúa của đời sống mình, chúng tôi kêu gọi quý vị hôm nay, hãy đến với Ngài để nhận sự tự do thật. Chúng tôi đang làm công việc của những người giúp đỡ.  Ước ao sau sứ điệp nầy, quý vị sẽ đến với Chúa Giê-xu.

 


Họ và tên (*) Email (*)
Hiển thị email
Nội dung
 

Portrait of Grace - part 05 of 08 Chân dung ân điển - Phần 05
Portrait of Grace - part 04 of 08 Chân dung Ân Điển - Phần 04
Portrait of Grace - part 03 of 08 Chân dung Ân Điển - Phần 03
Portrait of Grace - part 02 of 08 Chân dung Ân điển - Phần 02
You want me to do what ?- Part 12 of 12 Ngài muốn con làm gì ? - Phần 12
You want me to do what ?- Part 10 of 12 Ngài muốn con làm gì? - Phần 10
   Đăng nhập | Đăng ký