You want me to do what ?- Part 12 of 12

ENGLISH TRANSCRIPT FOR DUAL LANGUAGE BROADCAST

 

Leading the Way with Dr. Michael Youssef

 

“YOU WANT ME TO DO WHAT?”

Part 12 of 12

 

LỜI GIỚI THIỆU: Con người thường nghĩ rằng nếu không có tiền, không có cơm gạo thì họ sẽ chết.  Nhưng có những thứ khác còn thiết yếu hơn với sự sống con người mà họ ít khi nghĩ đến.  Ví dụ như để sống thì chúng ta cần nước uống, cần không khí, cần ánh sáng mặt trời, ... nhưng chúng ta không hề quan tâm đến những điều nầy vì đó là đương nhiên; chúng ta không hề và không cần trả tiền để có những thứ đó.  Ít người để ý rằng Đức Chúa Trời đã ban mọi điều đó vì sự sống của chúng ta trên đất nầy.  Người Việt Nam ăn cơm Trời, hít thở không khí của Trời mà không thờ Trời.  Đó là lòng vô ơn.  Còn người tin Chúa thì có bày tỏ lòng biết ơn đối với Đức Chúa Trời, nhưng không phải lúc nào cũng vậy.  Có khi chúng ta hết sức biết ơn Chúa, nhất là khi có những hoạn nạn, khó khăn xảy ra và chúng ta được giải cứu.  Nhưng sau khi mọi sự đó qua rồi, chúng ta lại quên mất những điều lớn lao Chúa đã làm cho mình.  Do đó chúng ta không cảm tạ Chúa nữa. Trong sứ điệp hôm nay, mục sư diễn giả sẽ cho thấy tình trạng chung của dân sự Chúa sau khi chiếm xứ để rút ra những bài học thuộc linh quan trọng cho chúng ta ngày nay.  Kính mời quý thính giả tiếp tục lắng nghe.

 

SECTION A

1)     Hello, listening friends, and thank you for joining us for this broadcast.

Xin kính chào quý thính giả, và xin cảm ơn quý vị đã tham gia chương trình phát thanh nầy với chúng tôi.       

2)     In this series, we have been learning how to follow God’s call on our lives.

Trong loạt sứ điệp nầy, lâu nay chúng ta đang học biết làm thế nào để đi theo tiếng gọi của Đức Chúa Trời cho đời sống chúng ta.

3)     That call sometimes leaves us asking the question, “You want me to do what?”

Tiếng gọi đó đôi khi khiến chúng ta đặt câu hỏi, "Ngài muốn con làm gì?"

4)     And in today’s final answer, we will learn how to tell the story.

Và trong câu trả lời cuối cùng hôm nay, chúng ta sẽ học làm thế nào để kể lại câu chuyện đó.

5)     If you have a Bible, please turn to the book of Joshua, chapter 24.

Nếu quý vị có Kinh Thánh, xin mở ra trong sách Giô-suê đoạn hai mươi bốn.

6)     But first, I want you to imagine this imaginary scenario.

Nhưng trước tiên, tôi muốn quý vị hình dung ra khung cảnh tưởng tượng nầy.

7)     You wake up in the morning and there is no dawn.

Quý vị thức dậy vào buổi sáng và không hề có bình minh.

8)     Morning passes, but still no sun has risen.

Buổi sáng trôi qua, nhưng mặt trời vẫn không mọc lên.

9)     And by afternoon, ice begins forming on the trees from unexpected freezing weather.

Và vào buổi chiều, băng bắt đầu đóng trên cây cối bởi thời tiết lạnh giá bất ngờ.

10)Imagine the panic and the fear and the puzzlement about why the sun has stopped shining.

Hãy tưởng tượng sự hoang mang, sợ hãi và bối rối vì sao mà mặt trời không còn chiếu sáng nữa.

11)You would ask, “What happened to the sun?”

Quý vị có thể hỏi, “Điều gì đã xảy ra cho mặt trời?”

12)Perhaps, out of fear, churches will begin to be filling up with people crying to God and praying for hours and hours.

Có lẽ, bởi sự sợ hãi, các nhà thờ sẽ bắt đầu đầy những người đến khóc lóc với Đức Chúa Trời và cầu nguyện hết giờ nầy qua giờ khác.

13)The next morning, the sun rises again and the light penetrates the darkness.

Sáng hôm sau, mặt trời mọc trở lại và ánh sáng xuyên thủng màn đêm.

14)I want you to imagine the joy and the elation of seeing the rays of the sun.

Tôi muốn quý vị hình dung niềm vui và niềm hân hoan khi nhìn thấy những tia nắng mặt trời.

15)Imagine the praise, the thankfulness, and the gratitude to God for the rising of the sun.

Hãy hình dung sự ngợi khen, sự cảm tạ và lòng biết ơn Đức Chúa Trời vì Ngài đã khiến mặt trời mọc lên.

16)And yet in our real world, God does make the sun rise every morning.

Vậy tuy vậy trong thế giới thật của chúng ta, Đức Chúa Trời vẫn khiến mặt trời mọc lên mỗi buổi sáng.

17)Why don’t we praise God every single day for the sun?

Nhưng tại sao chúng ta không ngợi khen Đức Chúa Trời từng ngày một vì có mặt trời?

18)Why don’t we praise God every single day for just waking us up?

Tại sao chúng ta không ngợi khen Đức Chúa Trời từng ngày một vì Ngài gọi chúng ta thức dậy?

19)Why don’t we daily have this thankfulness and praising attitude?

Tại sao chúng ta không có thái độ ngợi ca và biết ơn như vậy mỗi ngày?

20)Why would it only happen after this fearful experience?

Tại sao điều đó chỉ xảy ra sau kinh nghiệm kinh hoàng nầy?

21)Because sadly, we do not fully appreciate God and His creation or His gifts.

Bởi vì đáng buồn thay, chúng ta không hết lòng biết ơn Đức Chúa Trời và sự sáng tạo hay những món quà của Ngài.

22)Sadly, we often have to lose something before we fully appreciate it.

Đáng buồn thay, chúng ta thường phải đánh mất một điều gì đó rồi chúng ta mới thực sự quý trọng nó.

23)Because sadly, we are forgetful people.

Bởi vì đáng buồn thay, chúng ta là những con người hay quên.       

24)And our forgetfulness is precisely why God tells us repeatedly in His Word, “Remember, remember, remember.”

Và sự hay quên của chúng ta chính xác là lý do tại sao Đức Chúa Trời phán dặn chúng ta nhiều lần trong lời Ngài, “Hãy nhớ, hãy nhớ, hãy nhớ.”

25)Amnesia is a medical condition that involves the loss of memory.

Chứng quên là một tình trạng bệnh lý liên quan đến việc mất trí nhớ.

26)A victim will actually forget his name, where he lives, significant events in his life, and even his family.

Một bệnh nhân sẽ thực sự quên tên mình, nơi mình sống, những sự kiện quan trọng trong đời, và thậm chí cả gia đình của mình nữa.

27)There is a spiritual equivalence to amnesia.

Có một căn bệnh thuộc linh tương đương với bệnh mất trí nhớ.

28)It happens when people allow their present trouble to cause them to forget God’s past mercies.

Nó xảy ra khi người ta để cho những nan đề trước mắt khiến họ quên đi lòng thương xót của Đức Chúa Trời trong quá khứ.

29)They forget God’s past blessings and provision.

Họ quên đi sự tiếp trợ và những ơn phước của Đức Chúa Trời trong quá khứ.

30)They forget God’s past interventions and unmerited favors.

Họ quên đi tình yêu thương không dò lường được và sự can thiệp của Đức Chúa Trời trong quá khứ.

31)God knows our tendency to forget His goodness, grace, and mercy.

Đức Chúa Trời biết chúng ta có xu hướng quên đi sự tốt lành, ân điển và lòng thương xót của Ngài.

32)God knows our tendency to stop appreciating His past blessings.

Đức Chúa Trời biết chúng ta có xu hướng ngưng biết ơn những ơn phước trong quá khứ của Ngài.

33)And our forgetfulness is why God repeatedly says in the book of Joshua chapter 24, “Don’t forget what I have done for you.”

Và sự hay quên của chúng ta chính là lý do tại sao Đức Chúa Trời phán lặp lại trong sách Giô-suê đoạn hai mươi bốn, “Đừng quên những điều ta đã làm cho các ngươi.”

34)In fact, the very place where Joshua gathered the people was a deliberate choice.

Thật ra, chính địa điểm nơi Giô-suê tập họp dân sự là một sự lựa chọn có chủ ý.

35)Look at the book of Joshua chapter 24 verse 1.

Hãy xem trong sách Giô-suê đoạn hai mươi bốn câu một.          

36)“Then Joshua assembled all the tribes of Israel in Shechem.”

“Giô-suê bèn nhóm hiệp các chi phái Y-sơ-ra-ên tại Si-chem.”              

37)Some of you may be asking, “What is so important about Shechem?”

Vài người trong quý vị có thể hỏi rằng, “Si-chem có gì quan trọng đến thế?”

38)Ah, it’s a source of remembrance.

A, đó là một nguồn hồi tưởng.                            

39)Six hundred years earlier, near Shechem, God promised Abraham that God would give Abraham’s descendents the land of promise.

Sáu trăm năm trước đó, gần Si-chem, Đức Chúa Trời đã hứa với Áp-ra-ham rằng Ngài sẽ ban cho dòng dõi Áp-ra-ham vùng đất hứa nầy.

40)And Abraham responded to the grace of God and His promise by building an altar of faith in Shechem.

Và Áp-ra-ham đã đáp lại ân điển của Đức Chúa Trời và lời hứa của Ngài bằng cách dựng một bàn thờ đức tin tại Si-chem.

41)Abraham’s grandson, Jacob, also came to Shechem.

Cháu nội của Áp-ra-ham, là Gia-cốp, cũng đã đến Si-chem.     

42)And there, Jacob surrendered the idols and removed them in order to worship the one true God in Shechem.

Và ở đó, Gia-cốp đã tránh xa những thần tượng và từ bỏ chúng để thờ phượng Đức Chúa Trời chân thật duy nhất tại Si-chem.

43)And so six hundred years after Abraham, Joshua builds another altar at Shechem to praise God for His faithfulness,

Và như vậy sáu trăm năm sau Áp-ra-ham, Giô-suê đã dựng một bàn thờ khác tại Si-chem để ca ngợi Đức Chúa Trời về sự thành tín của Ngài,

44)and also to challenge his people to make a response to God’s blessing.

Và cũng để thách thức dân sự mình đáp ứng lại ơn phước của Đức Chúa Trời.

45)Six hundred years may seem like a long time to us, but God never forgets His promises.

Sáu trăm năm có thể là một quãng thời gian dài đối với chúng ta, nhưng Đức Chúa Trời không bao giờ quên những lời hứa của Ngài.

46)If you are a believer in the Lord Jesus Christ, you probably have your own Shechem in your life.

Nếu quý vị là một tín đồ của Đức Chúa Giê-xu Christ, có lẽ quý vị cũng có Si-chem của riêng mình.

47)These Shechems in our lives are the places where God had met us in a very special way;

Những Si-chem nầy trong đời sống của chúng ta là những nơi Đức Chúa Trời đã gặp gỡ chúng ta một cách hết sức đặc biệt;

48)places where God blessed us and provided for us,

là những nơi Đức Chúa Trời đã ban phước và tiếp trợ cho chúng ta,                 

49)places where God fulfilled His promises to us and answered our prayers,

là những nơi Đức Chúa Trời đã làm thành những lời hứa của Ngài cho chúng ta và đáp lời cầu nguyện của chúng ta,

50)places where God intervened on our behalf,

là những nơi Đức Chúa Trời đã can thiệp vì cớ chúng ta,                                     

51)places where God showed Himself faithful to us despite of our faithfulness.

Là những nơi Đức Chúa Trời đã bày tỏ sự thành tín của Ngài với chúng ta mặc cho sự bất tín của chúng ta.

52)There in the city of Shechem, God spoke to His people through Joshua.

Ơ đó trong thành Si-chem, Đức Chúa Trời đã phán với dân sự Ngài thông qua Giô-suê.

53)There He reminded them of how He rescued them from the mud pits of slavery,

Ơ đó Ngài nhắc nhở họ thể nào Ngài đã giải cứu họ khỏi những hố bùn của ách nô lệ,

54)how He gave them manna in the wilderness,

thể nào Ngài đã ban cho họ ma-na trong đồng vắng,          

55)how He gave them the cloud by day and the pillar of fire by night,

thể nào Ngài đã ban cho họ trụ mây ban ngày và trụ lửa ban đêm,

56)how He gave them victory over their enemies,

thể nào Ngài đã ban cho họ chiến thắng trên những kẻ thù của họ,

57)how He supernaturally helped them cross the river of impossibilities,

thể nào Ngài đã giúp họ băng qua dòng sông của những điều bất khả một cách siêu nhiên,

58)how He destroyed the impenetrable walls of Jericho on their behalf,

thể nào Ngài đã tiêu diệt những vách thành không thể xâm nhập của Giê-ri-cô vì cớ họ,

59)how the Lord kept His promises to Abraham six hundred years earlier,

thể nào Chúa đã giữ những lời hứa của Ngài với Áp-ra-ham sáu trăm năm trước,

60)and how His chosen people became the inheritance of that promise.

Và thể nào Ngài đã lựa chọn dân sự nầy trở nên kẻ kế tự của lời hứa đó.

61)Seventeen times in the book of Joshua chapter 24, God used the word, “I,” “I.”

Mười bảy lần trong sách Giô-suê đoạn hai mươi bốn, Đức Chúa Trời sử dụng từ, “Ta,” “Ta,”

62)“I took you.”

“Ta đã đem các ngươi.”                                                        

63)“I gave you.”

“Ta đã ban cho các ngươi.”                                                     

64)“I sent you.”

“Ta đã sai các ngươi.”                                                       

65)“I brought you.”

“Ta đã đem các ngươi.”                                                            

66)“I delivered you.”

“Ta đã giải cứu các ngươi.”                                                

67)And God is saying the same thing to you, my listening friend.

Và thưa quý thính giả, Đức Chúa Trời đang phán chính điều đó với quý vị.     

68)Do you remember that serious illness that you survived?

Quý vị có nhớ căn bệnh trầm trọng mà quý vị đã sống qua không?

69)God healed you.

Đức Chúa Trời đã chữa lành quý vị.                                                        

70)Do you remember the money you just received?

Quý vị có nhớ số tiền quý vị mới vừa nhận được không?

71)God gave that money to you.

Đức Chúa Trời đã ban số tiền đó cho quý vị.                                            

72)Do you remember the problem that nearly destroyed you?

Quý vị có nhớ những nan đề suýt nữa đã đánh bại quý vị không?

73)God brought you through that.

Đức Chúa Trời đã đem quý vị qua những nan đề đó.                                         

74)And think of the children that you have.

Và hãy nghĩ về những đứa con mà quý vị có.                         

75)They are not your children.

Chúng không phải là con của quý vị.                                            

76)They are God’s children and He gives them to you to manage for Him.

Chúng là con của Đức Chúa Trời và Ngài ban chúng cho quý vị để quản lý cho Ngài.

77)And here, Joshua reminds them of their responsibilities because of these blessings.

Và ở đây, Giô-suê nhắc nhở họ về trách nhiệm của họ về những ơn phước nầy.

78)My listening friend, God has blessed you for a purpose.

Thưa quý thính giả, Đức Chúa Trời đã ban phước cho quý vị vì một mục đích.

79)And you must discover how God wants you to use these blessings to bless other people.

Và quý vị phải khám phá ra Đức Chúa Trời muốn quý vị sử dụng những ơn phước nầy để đem phước đến cho người khác như thế nào.

80)It is not enough for you to review your blessings and say, “Thank you, God. You’ve blessed me so much.”

Nếu quý vị chỉ nhìn lại những ơn phước của mình và nói, “Cảm ơn Chúa. Ngài đã ban phước cho con nhiều quá.” Thì không đủ.

81)No.

Không.                                                                                  

82)You must respond to the receiving of your blessings.

Quý vị phải đáp ứng lại việc quý vị nhận được những ơn phước.      

83)You must remind yourself of your responsibility for what God has given you.

Quý vị phải tự nhắc nhở mình về trách nhiệm đối với những gì Đức Chúa Trời đã ban cho quý vị.

84)God’s blessings were given to you so that you may become a witness for Christ,

Những ơn phước Đức Chúa Trời đã ban cho quý vị là để quý vị có thể trở nên một chứng nhân cho Đấng Christ,

85)so that you may be an ambassador for Christ,

để quý vị có thể trở nên một đại sứ cho Đấng Christ,                

86)so that you may be a reconciler of men and women to the Lord Jesus Christ.

Để quý vị có thể trở nên một người giải hòa những người nam và những người nữ với Đức Chúa Giê-xu Christ.

87)When Jesus responded in obedience to God His Father, He did something.

Khi Đức Chúa Giê-xu đáp lại Cha Ngài trong sự vâng lời, Ngài đã hành động.

88)He came down from heaven.

Ngài đã xuống thế gian từ thiên đàng.                      

89)And Jesus said in the book of Luke chapter 15,

Và Chúa Giê-xu phán trong sách Lu-ca đoạn mười lăm,            

90)that when the shepherd discovered one of his sheep were missing, he did something.

Rằng khi người chăn phát hiện ra một trong các con chiên của mình bị lạc mất, ông đã hành động.

91)The shepherd went out and looked for the lost sheep until he found it.

Người chăn đi ra và tìm con chiên bị lạc mất cho đến khi ông tìm thấy nó.

92)And then he put the sheep on his shoulders and brought it back.

 Và rồi ông vác con chiên trên vai và đem nó trở về.

93)When the woman in the Bible lost her coin, she did something.

Khi người đàn bà trong Kinh Thánh đánh mất đồng xu, bà đã hành động.

94)She started searching diligently until she found the coin, and then they all rejoiced.

Bà bắt đầu tìm kiếm kỹ lưỡng cho đến khi bà tìm thấy đồng xu, và rồi mọi người cùng vui mừng.

95)Joshua said to God’s people,

Giô-suê nói với dân sự của Đức Chúa Trời,                                                 

96)“You need to remember your blessings, but now you also need to respond to these blessings.”

“Các ngươi phải nhớ lấy những ơn phước của các ngươi, nhưng các ngươi cũng phải đáp ứng lại những ơn phước đó nữa.”

97)In fact, if you read in the book of Joshua chapter 24, you will notice that Joshua grew frustrated at the people’s apathy.

Thật ra, nếu quý vị đọc trong sách Giô-suê đoạn hai mươi bốn, quý vị sẽ chú ý rằng Giô-suê đã bắt đầu chán nản với sự lãnh đạm của dân sự.

98)The people’s attitude was something like this—

Thái độ của dân sự là một thứ gì đó giống như thế nầy                                        

99)“Yeah, yeah, yeah, we love God. Yeah, yeah, we love God.

“Vâng, vâng, vâng, chúng tôi yêu Chúa. Vâng, vâng, chúng tôi yêu Chúa.

SECTION B

1)     All right, Joshua, we will see what we can do in response to God’s blessings.”

Đúng rồi, Giô-suê ơi, chúng tôi sẽ xem mình có thể làm gì để đáp ứng lại những ơn phước của Đức Chúa Trời nhé.”

2)     But Joshua became exasperated at their insipid, lukewarm response, and he said in verse 15, “Choose for yourself this day whom you shall worship. If you’re going to worship the false gods of your fathers, go ahead.”

Nhưng Giô-suê càng bực tức hơn vì thái độ thờ ơ và hâm hẩm của họ, và ông nói trong câu mười lăm, “Ngày nay hãy chọn ai mà mình muốn phục sự. Nếu các ngươi muốn phục sự các thần giả của tổ phụ các ngươi, hãy cứ làm như vậy.”

3)     These are the words of an exasperated man.

Đó là những lời nói của một người tức giận.    

4)     And so he goes on to say,

Và ông tiếp tục nói,                                                     

5)     “But as for me and my household, we know what decision we are making. We are going to worship the one, true God.”

“Nhưng còn về phần ta và nhà ta, chúng ta biết phải quyết định như thế nào. Chúng ta sẽ thờ phượng Đức Chúa Trời chân thật duy nhất.”

6)     You can sense Joshua’s exasperation as if to say, “Don’t just worship God halfheartedly.

Quý vị có thể cảm nhận sự tức giận của Giô-suê cứ như thể nói rằng, “Đừng thờ phượng Đức Chúa Trời mà không hết lòng.

7)     Don’t serve Him out of a feeling of obligation.

Đừng hầu việc Ngài như là thực hiện một nghĩa vụ.

8)     Don’t outwardly do the right things while inwardly your heart is full of selfishness.”

Đừng làm điều đúng ở bề ngoài trong khi bên trong lòng các ngươi thì đầy dẫy sự ích kỷ.”

9)     Joshua said, “As far as my family and I are concerned, we are going to serve the one, true God.”

Giô-suê nói, “Nhưng ta và nhà ta sẽ phục sự Đức Giê-hô-va.”                            

10)Regardless of what popular opinions say or what other people do,

Mặc kệ đa số người ta có ý kiến như thế nào hay những người khác làm gì,

11)regardless of what pressures are put upon me,

mặc cho những áp lực mà tôi phải gánh chịu,                                                 

12)regardless of what others would say about me or do to me,

mặc cho người khác có nói gì về tôi hay đối xử thế nào với tôi,

13)I will only serve the one, true God.

Tôi sẽ chỉ hầu việc Đức Chúa Trời chân thật duy nhất.                    

14)But even after these words, Joshua feels that the people still are not convinced.

Nhưng thậm chí sau những lời nầy, Giô-suê cảm nhận rằng dân sự vẫn chưa chịu thuyết phục.

15)Joshua feels that they were saying ‘yes’ with their mouths but ‘no’ with their eyes.

Giô-suê cảm thấy họ đang nói ‘vâng’ bằng môi miệng mình nhưng lại nói ‘không’ trong ánh mắt.

16)So in chapter 24 verse 23, Joshua says,

Vì vậy trong đoạn hai mươi bốn câu hai mươi ba, Giô-suê nói,

17)“Then put away the foreign gods which you are keeping in your homes.”

“Hãy cất các thần ngoại bang ra khỏi giữa các ngươi đi.”

18)What does that mean today to us?

Điều nầy có ý nghĩa gì với chúng ta trong thời đại ngày nay?

19)It means that you need to prove your allegiance to Christ and take a stand now.

Điều đó có nghĩa là quý vị cần phải thể hiện lòng trung tín với Đấng Christ và xác định lập trường ngay bây giờ.

20)It means that you must let your walk match your talk today.

Điều đó có nghĩa là quý vị phải để cho đường lối quý vị đồng nhất với lời nói của quý vị hôm nay.

21)My listening friend, please listen carefully as we conclude.

Thưa quý thính giả, xin hãy lắng nghe thật kỹ phần kết luận của chúng tôi.

22)Most covenants are held between two equals.

Hầu hết các giao ước đều được ký kết giữa hai bên bình đẳng.

23)For example,

Chẳng hạn như,                                                                            

24)we have a covenant of marriage between husband and wife as two equals.

Chúng ta có giao ước hôn nhân giữa chồng và vợ  là hai người bình đẳng.

25)Two businessmen enter into a business partnership as two equals.

Hai doanh nhân ký kết một hợp đồng làm đối tác bình đẳng.

26)But the magnificent thing about the grace of God is that the superior, holy, righteous, rich God makes and keeps a covenant with inferior sinners like us.

Nhưng điều đẹp đẽ trong ân điển của Đức Chúa Trời đó là Đức Chúa Trời giàu có, công chính, thánh khiết và siêu phàm lại lập và giữ một giao ước với những tội nhân thấp kém như chúng ta.

27)And what a privilege it is to know that the great and only God wants to covenant with us.

Và thật là một vinh dự được biết rằng Đức Chúa Trời vĩ đại và duy nhất muốn lập giao ước với chúng ta.

28)And so, my listening friend, make a covenant with God today that you will use your blessings to bless other people.

Và vì vậy, thưa quý thính giả, hãy lập một giao ước với Đức Chúa Trời hôm nay rằng quý vị sẽ sử dụng những ơn phước của mình để đem phước hạnh đến cho người khác.

29)Say to God today, “God, You saved me. Now I want to help save somebody else.”

Hãy thưa với Đức Chúa Trời hôm nay, “Lạy Chúa, Ngài đã cứu con. Giờ đây con muốn giúp cứu những người khác.”

30)“God, You blessed me. Now I want to be a blessing to others.”

“Lạy Chúa, Ngài đã ban phước cho con. Bây giờ con muốn trở nên một nguồn phước cho những người khác.”

31)“God, You provided for me. Now I want to provide for others to hear the gospel and come to believe in You.”

“Lạy Chúa, Ngài đã tiếp trợ con. Bây giờ con muốn chia sẻ cho những người khác về tin lành để họ nghe và đến tin nhận Ngài.”

32)Do you know, my listening friend, what honors the covenant-making and covenant-keeping God?

Thưa quý thính giả, quý vị có biết điều gì tôn cao Đức Chúa Trời là Đấng lập và giữ giao ước không?

33)Your willingness to trust Him.

Đó là lòng sẵn sàng tin cậy Ngài của quý vị.                 

34)Trust in His grace,

Hãy tin cậy nơi ân điển Ngài,                                          

35)in His provision,

nơi sự chu cấp của Ngài,                                                   

36)and in His promises.

Và nơi những lời hứa của Ngài.                             

37)Until next time, I wish you God’s richest blessing.

Hẹn gặp lại lần sau.  Tôi cầu xin Đức Chúa Trời ban phước dư dật trên quý vị.

 

LỜI KẾT:  Trong Mười Điều Răn, chỉ có một điều răn bắt đầu bằng chữ “Hãy nhớ.” Một giáo phái kia đã dùng điều nầy để tuyên bố rằng đây là điều răn lớn nhất trong số Mười Điều Răn.  Chúng ta biết các điều răn quan trọng như nhau và chỉ cần phạm một điều là coi như phạm hết thảy.  Nhưng chữ “Hãy nhớ” gợi lại cho chúng ta một bài học quan trọng.  Chúng ta hay quên, nhất là quên những điều tốt lành Chúa đã làm trên đời sống mình, trên gia đình mình, trên cộng đồng và quốc gia của mình.  Cũng chính vì thế mà Đức Chúa Giê-xu đã thiết lập Tiệc Thánh và ra lệnh cho chúng ta giữ thánh lễ nầy để nhớ Ngài, nhớ sự cứu rỗi của Ngài, công lao chuộc tội của Ngài dành cho chúng ta. Có lẽ ít người trong chúng ta nói rằng tôi đã quên.  Vâng, chúng ta nhớ vì Ngài vẫn nhắc nhở chúng ta luôn.  Nhưng chúng ta làm gì khi chúng ta nhớ? Ngài không muốn chúng ta chỉ nhớ suông. Ngài muốn chúng ta hành động theo điều mình nhớ.  Giô-suê đã không nói: “Ta và nhà ta sẽ nhớ Đức Giê-hô-va,” mà ông nói họ sẽ “phục sự” Ngài.  Còn chúng ta thì sao?  Chúng ta chỉ nhớ suông hay chúng ta cũng phục sự Chúa nữa?

 


Họ và tên (*) Email (*)
Hiển thị email
Nội dung
 

Portrait of Grace - part 05 of 08 Chân dung ân điển - Phần 05
Portrait of Grace - part 04 of 08 Chân dung Ân Điển - Phần 04
Portrait of Grace - part 03 of 08 Chân dung Ân Điển - Phần 03
Portrait of Grace - part 02 of 08 Chân dung Ân điển - Phần 02
You want me to do what ?- Part 11 of 12 Ngài muốn con làm gì? - Phần 11
You want me to do what ?- Part 10 of 12 Ngài muốn con làm gì? - Phần 10
   Đăng nhập | Đăng ký